RSS

Category Archives: Mô hình tuyên truyền hiv

Giới thiệu những mô hình tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS đã được ứng dụng hiệu quả trong cộng đồng

Đà Nẵng: Nhóm đồng đẳng chăm sóc người có HIV tại nhà

Tình trạng kỳ thị, bỏ mặc người bị bệnh HIV/AIDS, ngay cả đó là người thân trong gia đình vẫn còn diễn ra phổ biến ở Đà Nẵng. Một nhóm đồng đẳng tình nguyện đã đứng ra nhận chăm sóc những bệnh nhân này.

Trong căn phòng tối, H gượng dậy quờ quạng tìm cây nạng gỗ, nhưng không sao nhấc nổi người. Tấm thân khuyết tật, gầy gò tấy đỏ bởi những vết lở to như quả trứng gà, làm anh càng thêm nhức nhối. Kể từ ngày biết con mình có HIV, rồi chuyển qua AIDS, gia đình để H một mình tại căn phòng này và phó mặc mọi việc ăn uống, đi lại cho anh. Nhiều lúc H cảm thấy cô quạnh, bất lực.

Một buổi sinh hoạt của những người có HIV tại Đà Nẵng.

Chị T (xã Hoà Tiến, Hoà Vang) – một người có HIV, cũng từng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Chồng mất sớm để lại cho chị căn bệnh thế kỷ và 2 đứa con thơ dại. Chị T đi đến đâu cũng bị xì xầm, tránh né, thậm chí muốn ăn bát bún cũng không ai dám bán. Khó khăn, bệnh tật lại thêm sự xa lánh, kỳ thị của bà con lối xóm khiến chị suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần. Chị nhiều lần muốn tìm đến cái chết để giải thoát cho mình…

Theo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Đà Nẵng, đến thời điểm này đã có hơn 1.440 người có HIV, trong đó 570 trường hợp đã chuyển qua giai đoạn AIDS. Tuy nhiên, chỉ có 1/10 trong số đó dám công khai và được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế, số còn lại âm thầm sống trong sự kỳ thị từ cộng đồng…

Thời gian gần đây, Đà Nẵng xuất hiện nhiều nhóm đồng đẳng, Tổ chức NAT và nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà. Những nhóm này đã động viên rất nhiều cho những bệnh nhân có HIV. Anh H nói đến ở trên cũng nhờ được nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà mà tìm thấy chút niềm vui. Hàng ngày các thành viên trong nhóm thay nhau đến giúp H rửa vết thương, thay băng, đỡ đần cơm nước, giặt giũ quần áo.

Anh Toàn, Trưởng nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà ở quận Cẩm Lệ tâm sự: Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh công tác truyền thông, sự phân biệt, kỳ thị người có HIV ở TP.Đà Nẵng đã giảm. Nhưng ở một số nơi, nhất là vùng nông thôn và ngoại ô thành phố, nhiều người vẫn ngại tiếp xúc, xa lánh người có HIV.

Anh Toàn và những người bạn của mình đã tự nguyện tìm đến nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà, với mong muốn được giúp đỡ, sẻ chia những người cùng cảnh ngộ như mình.

Được biết, hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 5 nhóm chăm sóc tại nhà cho người có HIV với gần 30 thành viên, hầu hết họ đều là người có HIV. Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh éo le, nhưng đầy nghị lực sống và tấm lòng nhân ái.

 Theo Báo Dân Việt

 

Thẻ:

Nhóm Tiếng Vọng – Hiệp sĩ AIDS

Đó là biệt danh mà mọi người đặt cho chị Nguyễn Thị Vinh – trưởng nhóm thiện nguyện Tiếng Vọng (TP HCM). Nhiều người thân còn gọi chị là Vinh “Siđa”, vì công việc của chị là tắm rửa, dọn dẹp vệ sinh, cho uống thuốc, đi mướn nhà, kiếm việc làm, thậm chí mai táng cho các bệnh nhân AIDS.

Gần 3 năm qua, chị và 30 đội viên tình nguyện trong nhóm Tiếng Vọng, do chị sáng lập, đã chăm sóc gần 300 bệnh nhân AIDS cô đơn, không nơi nương tựa. Không ít bệnh nhân bị người thân bỏ rơi, lợi dụng lúc người bệnh đang ngủ hoặc quá yếu, không còn khả năng kháng cự để chở đến một nơi xa xôi, bỏ mặc không cần biết sống chết. Có những người vợ, người chồng còn đóng giả là người qua đường “thấy tội nên làm phúc chở giùm” đến chỗ tình nguyện viên.

Chị Vinh kể trường hợp như D., 15 tuổi, nhà ở quận 5 bị nhiễm HIV do dùng chung kim tiêm ma tuý với nhóm bạn, đã phải nằm ngoài hành lang nhà mình cả tuần mặc nắng mưa. Suốt một tháng, ngày nào chị cũng đến đút cháo, lau người lau mặt cho D., hướng dẫn người nhà cách phòng chống lây nhiễm, bố D. mới để em được vào nhà. Chị Vinh cho rằng: “Đôi khi người bệnh không chết vì AIDS mà chết vì sự tàn nhẫn của thân nhân họ”.

Có những ngày mà công việc mở màn của chị là đi xin một chiếc… quan tài. “Đa số bệnh nhân AIDS chết trong cảnh nghèo túng và cô độc. Nếu còn người nhà thì họ cũng đã kiệt quệ về tài chính sau nhiều năm nuôi bệnh nên nhiều khi một chiếc quan tài cũng trở thành xa xỉ”, chị Vinh tâm sự.

Suốt những năm là nữ sinh trung học, mùa hè nào chị Vinh cũng cùng đoàn công tác xã hội của trường, của địa phương đi cứu trợ lũ lụt miền trung, phát thuốc cho đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên. Năm 1997, chị là một trong những tình nguyện viên đầu tiên trong chương trình “Giúp đỡ các bệnh nhân AIDS” của nhà thờ dòng Chúa cứu thế.

Bác sĩ Nguyễn Đăng Phấn, Bệnh viện Bình Dân, giảng viên y tế của phong trào thiện nguyện, cho biết sáu năm qua hàng nghìn tình nguyện viên đã qua lớp đào tạo nhưng những người còn gắn bó với công việc như chị Vinh chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thực tế, tại TP HCM mỗi năm có trên dưới 1.000 bệnh nhân AIDS không nhận được những chăm sóc tối thiểu chỉ vì đa số họ thuộc tầng lớp nghèo nhất trong xã hội, trong khi các cơ sở từ thiện không đủ chỗ tiếp nhận. “Nếu không có những đội viên tình nguyện giàu tâm huyết như chị Vinh, bộ mặt xã hội sẽ không thể khang trang, đẹp đẽ như chúng ta đang thấy. Hàng nghìn con người sẽ phải chết oan vì không thể chờ đến khi thuốc trị bệnh AIDS đến với mình”.

Khác với các nhóm tình nguyện khác, Tiếng Vọng có một phần ba là bệnh nhân AIDS và người từng nghiện ma tuý. Nhiều phụ huynh đã tín nhiệm xem đây là “trường cai nghiện bằng thực tiễn” để gửi gắm con em mình. Cứ mỗi chiều thứ bảy hàng tuần, họ lại tập trung về 204/19 Cách Mạng Tháng Tám, phường 5, quận Tân Bình cùng nhau đi chăm sóc các bệnh nhân khác. Tiếng Vọng cũng là nơi đầu tiên áp dụng mô hình “bệnh nhân AIDS giúp đỡ bệnh nhân AIDS”. Người bệnh công khai tình trạng của mình, được đối xử bình đẳng và làm việc như những thành viên khác. Mô hình hoạt động của nhóm đã được UNICEF ghi nhận là bước tiến mới trong nỗ lực giúp đỡ bệnh nhân AIDS và được đề nghị là điển hình để nhân rộng tại các quốc gia khác.

(Theo Tuổi Trẻ)

 

 

Thẻ:

Tiếng vọng từ phận người

Xin chia sẻ bài viết của chị Nguyễn Thị Vinh Trưởng nhóm Tiêng Vọng thành phố Hồ Chí Minh.   Đây là một nhóm tự nguyện chuyên chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS

“Tôi tìm thấy anh trong một cái ống cống nằm trơ trên mặt lộ cạnh bến xe miền Đông. Anh trốn trong đó để tránh cái nắng gắt của buổi trưa hè. Người thân và bạn bè không cho anh ở nhờ dù chỉ là trên cái vỉa hè, vì anh đang bị mắc phải căn bệnh mà ai nghe cũng phải sợ hãi. Tôi lại gần ống cống, cúi thấp người và gọi anh ra. Anh ngần ngại vì có lẽ anh chẳng biết tôi là ai, và cũng có thể là do mặc cảm nên không muốn ra. Tôi phải dùng lời ngọt ngào để “dụ” anh ra. Một số người ở hai bên đường tò mò tiến lại chỗ chúng tôi và bắt đầu quan sát anh. Tôi nghe họ xì xào: “Đáng đời, ăn chơi cho lắm thì bây giờ phải chịu thôi, mấy thứ này giúp làm gì”. Bỏ ngoài tai những lời bình phẩm, tôi tiếp tục thuyết phục anh. Phải tốn rất nhiều… hơi mới “lôi” được anh ra khỏi cái ống cống, tôi mượn một chiếc ghế của quán cà phê ven đường cho anh ngồi, rồi bắt đầu hỏi về “lý lịch” của anh. Nhưng câu trả lời tôi nhận được là “không”. Cuối cùng tôi hỏi anh là muốn được giúp gì, lúc này anh mới trả lời là muốn được điều trị bệnh vì cả tuần qua anh bỏ ăn, chỉ uống được nước. Tôi chẩn đoán sơ bộ biết anh mắc bệnh lao nên thuê một chiếc xe xích lô chở vào bệnh viện lao Hồng Bàng. Tại đây người ta bắt tôi phải đóng 500.000 đồng mới cho nhập viện và trong khi điều trị tôi phải đóng tiền tiếp tục cho đến khi bệnh nhân xuất viện. Chúa ơi! biết lấy tiền đâu ra bây giờ? Việc này làm tôi bối rối, tôi thầm nguyện cầu. May sao, tôi gặp được một ông bác sĩ người Công giáo, cũng làm việc tại bệnh viện này. Nghe tôi trình bày, ông bác sĩ nói tôi chịu khó đóng cho anh 500.000 đồng để nhập viện, phần còn lại để ông lo cho. Tôi mừng húm. Bây giờ chỉ còn phải lo cái ăn cho anh ấy hàng ngày nữa là xong. Người ta mách cho tôi biết ở cuối bệnh viện có các Sơ chuyên phục vụ bữa ăn từ thiện. Tôi xuống tìm gặp các Sơ để “ngoại giao”. Các Sơ đồng ý, tôi đưa tên tuổi và số phòng nằm của anh cho Sơ. Đến lúc này, tôi mệt lử cả người nhưng ra về lòng lại thấy nhẹ nhàng, thanh thản…

Cứ vào chiều thứ bảy hàng tuần, chúng tôi thay nhau đến thăm, mua quà bánh và những thứ cần dùng cho anh. Tuần nào vì nhiều công việc chúng tôi không đến được thì anh buồn bã, trông chờ. Thấm thoát hai tháng trôi qua, anh được xuất viện, sức khoẻ của anh cũng đã được hồi phục. Tôi đoán anh không dám làm phiền tôi nữa, vì đã lặng lẽ rời bệnh viện mà không hề cho tôi biết. Một tuần sau, có người phone báo tin cho tôi ở quận Phú Nhuận có một người mắc bệnh AIDS đang nằm trước cửa nhà họ. Tới nơi, tôi nhận ra là anh. Thấy tôi, anh đưa mắt nhìn như cầu cứu. Mới có 1 tuần mà sắc diện anh trông xuống dốc hẳn đi. Tôi lại phải đi tìm một nơi ở cho anh. Tôi cùng với mấy nhóm viên thuê cho anh một “túp lều” rộng 9m2 ở mãi tận quận Bình Tân. Phải đi xa như thế tiền thuê mới rẻ! Lần này chúng tôi phải đi sắm nồi niêu soong chảo, bát đĩa, bếp nấu… và nhiều vật dụng linh tinh để anh tự thân nấu ăn. Hàng tuần, chúng tôi lặn lội tới nơi ở của anh để đưa thuốc uống điều trị bệnh và đưa tiền cho anh mua thức ăn. Ở đây, xa thành phố ồn ào, cây cỏ nhiều, còn một khoảng trời xanh rộng rãi nên bầu không khí thiên nhiên thật tốt cho người bệnh. Một buổi chiều nọ, anh ngỏ ý xin thêm tiền nhưng tôi không cho vì nghĩ nếu là tôi thì với số tiền này cũng sống tạm được. Kể từ lúc đó tôi không thấy anh đòi hỏi gì nữa.

Rồi sức khoẻ anh ngày một yếu dần, lúc này anh mới chịu “tiết lộ” về đời tư của mình cho tôi nghe. Ngày xưa, anh là một trưởng Công an của một phường ở quận BT, anh đã có vợ và 1 con trai 16 tuổi, nhưng vợ con anh đều đã từ bỏ anh lâu lắm rồi. Anh không dám quay về để xin lỗi và gặp mặt đứa con thân yêu nữa, tài sản của anh có tới 3 căn nhà phố lầu, nhưng đã bay theo những cuộc ăn chơi trác táng của anh hết rồi. Lúc còn tiền của – xung quanh anh rất nhiều bạn bè, bây giờ thân tàn ma dại chẳng còn một ai thèm ngó tới, nhất là lại mắc thêm căn bệnh này nữa, họ lại càng kinh tởm, xa lánh. Anh cho biết còn một người anh trai hiện đang làm thiếu tá CSCĐ thành phố và cho tôi số điện thoại của ông anh để tôi liên lạc giúp, nếu anh có mệnh hệ gì (sau này tôi đã bị ông thiếu tá này từ chối thẳng khi nghe nói về anh). Anh tâm sự với tôi với giọng buồn rầu nhưng bình thản. Anh cảm ơn tôi và ngỏ ý là rất tiếc không có cơ hội để đền đáp.

Một tuần sau, chúng tôi tới thăm, thấy hai con mắt của anh trũng sâu xuống, tôi hỏi thăm về sức khoẻ thì anh cho biết ba ngày qua anh đi tiêu chảy rất nhiều. Linh cảm là anh không còn  sống được bao lâu nữa, tôi vội gởi anh về Trung Tâm Mai Hoà là nơi mà các Sơ lo giúp cho những người mắc bệnh AIDS không thân nhân được về với Chúa bình an. Anh về đây được hai tuần lễ, Sơ Giám Đốc phone cho tôi báo tin sức khoẻ anh rất kém, có lẽ không qua khỏi và anh rất muốn gặp tôi. Dù bận rộn và xa xôi, sáng hôm sau tôi cũng cố gắng thu xếp công việc tới với anh để thoả ý nguyện của người sắp lìa trần.

Khi tôi bước chân vào tới cửa phòng, tôi thấy anh đang nằm thở thoi thóp, hàm đã cứng không còn nói được gì nữa. Vậy mà không hiểu sao, khi biết tôi có mặt, anh như tỉnh lại. Tôi cầm tay anh hỏi còn nhận ra ai không, anh chớp mắt khẽ gật đầu. Giữa khoảnh khắc sự sống và cái chết, tôi thầm thì với anh những lời an ủi, khích lệ anh sắp về thiên đàng gặp Chúa là nơi mà anh được hưởng hạnh phúc thực sự. Cặp mắt nhợt nhạt của anh nhìn tôi chăm chăm, miệng ú ớ muốn nói gì đó, nhưng không ai hiểu được anh muốn nói gì.

Một Sơ đứng bên cạnh hỏi anh còn muốn gặp ai nữa, anh cố gắng phát âm nhưng không được. Tôi chợt hiểu ra, nên hỏi anh còn muốn gặp đứa con nữa phải không, anh mừng quá chớp mắt. Nhưng giờ ra đi của anh đã cận kề và tôi cũng chẳng biết con anh ở đâu mà tìm. Tôi đành phải nói cho anh yên lòng là con anh hiện rất ngoan, học giỏi và đang sống rất tốt với mẹ nó, nếu sau này có cơ hội gặp, tôi hứa sẽ chuyển ý của bố nó đến với nó. Nghe tôi nói vậy anh nhìn tôi như cảm ơn, tôi hỏi anh còn muốn gì nữa không, anh lắc nhẹ đầu rồi nhắm mắt lại và từ đó không nói gì nữa.

Biết anh chuẩn bị được Chúa rước về, chúng tôi hát nhè nhẹ bài “Trong trái tim Chúa yêu nhân từ” cùng hiệp thông với anh. Khi chúng tôi kết thúc bài hát là anh trút hơi thở cuối cùng. Hồn của anh đã bay về với Chúa. Tôi đưa tay vuốt mắt cho anh lần cuối cùng và thầm nhủ: từ nay tôi sẽ không bao giờ còn gặp anh nữa, không còn phải lo đến chiều thứ bảy đi thăm anh, không còn cơ hội để lo đến miếng ăn, chỗ ở cho anh, tôi sẽ không còn…

Nghĩ đến đây tự dưng nước mắt tôi tuôn trào, tôi khóc ngon lành trước mặt các Sơ ngơ ngác nhìn. Không ai hiểu được tại sao tôi không thân thích, họ hàng, không bạn bè, không thân cận mà tôi lại khóc thương anh đến thế. Vâng, đúng như vậy, chỉ có mỗi mình tôi hiểu là tại sao tôi khóc thôi. Tôi khóc vì hối hận – tại sao tôi lại không đối xử tốt với anh thêm một chút nữa nhỉ? Nhưng những giọt nước mắt của tôi muộn màng mất rồi vì tôi nhớ đến lúc anh còn sống, còn ăn uống được, anh đã xin tôi thêm tiền và tôi đã keo kiệt mà không cho.

Nguyễn Thị Vinh

Trưởng Nhóm  Tiến Vọng

204/10 Cách mạng tháng 8, F5, q Tân Bình , Tp  HCM . Mobile: 0908325899 , Email: echovinh@yahoo.com

 

 

Thẻ:

Thành phố Hải Phòng: Phát động Chiến dịch “100% Bao cao su”

Được sự phê duyệt của Ủy ban nhân dân Thành phố, Sở Y tế Thành phố Hải Phòng, với sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức Dịch vụ Dân số quốc tế (PSI) và sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) trong khuôn khổ Dự án “Truyền thông thay đổi hành vi và tiếp thị xã hội dự phòng HIV/AIDS” đã tổ chức Lễ phát động Chiến dịch “100% bao cao su” trên địa bàn Thành phố.

Tham dự Lễ phát động có lãnh đạo Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và Xã hội; đại diện Công an Thành phố, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch; Lãnh đạo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan và các cơ quan thông tấn báo chí thuộc Thành phố, cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân, bao gồm nhiều chủ cơ sở lưu trú, cơ sở vui chơi giải trí…

Ông Chu Quốc Ân, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế; Ông Richard Nyberg, Cố vấn truyền thông, đại diện cho USAID tại Việt Nam cùng các vị đại biểu quốc tế đại diện của PEPFAR, Abt Associate, PSI, DKT international…cũng đã về tham dự Lễ phát động.

Ông Hoàng Văn Kể, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hải phòng vì lý do công tác nên không trực tiếp tham dự mà cử cán bộ đến đọc lời phát biểu của Ông tại Lễ phát động, trong đó Ông Kể cho rằng, sự lây truyền HIV qua quan hệ tình dục không an toàn vẫn đang và sẽ là phương thức lây nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi thanh niên, trung niên và vị thành niên trên địa bàn Thành phố Hải Phòng, do đó, các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV, đặc biệt là chương trình vận động sử dụng 100% bao cao su trong quan hệ tình dục là rất quan trọng, vừa khống chế sự lay lan của HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe nhân dân và thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình…

Ông Kể nhấn mạnh, Lễ phát động Chiến dịch “100% bao cao su” là thể hiện sự cam kết mạnh mẽ, quyết tâm hơn nữa của các cấp, các ngành của Thành phố Hải Phòng, nhằm tăng cường sự phối hợp liên ngành trong công cuộc phòng, chống đại dịch HIV/AIDS; đồng thời một lần nữa cùng khẳng định vai trò quan trọng của Chương trình 100% bao cao su trong việc ngăn ngừa sự lây lan của HIV.

Cuối buổi mít tinh, các vị quan khách đã tham gia cắt băng chính thức khai trương Chương trình “100% bao cao su” tại Hải Phòng; xem giới thiệu về Lô gô, một số tài liệu, thông điệp truyền thông chính của Chương trình, các gian hàng trưng bày sản phẩm và bao cao su phục vụ Chương trình…

Nhiều người dân trong vùng, khách qua đường dừng chân tham quan, trao đổi và “xin” bao cao su tại các gian trưng bày bên lề buối Lễ

 

 

Tâm sự những phụ nữ nhiễm HIV/AIDS

Cách đây khoảng 10 năm, báo chí trong nước rộ lên các bài viết đưa tin về một xã ở tỉnh Thái Bình, được gọi là xã AIDS bởi có số lượng người nhiễm HIV cao.

Photo courtesy of unaids.org.vn

“Cùng chung tay đẩy lùi ma túy” với trẻ em VN

Đáng buồn hơn nữa, do thiếu kiến thức về căn bệnh này, những tin đồn, bài viết và hình ảnh đăng tải trên báo chí lúc đó đã vẽ lên hình ảnh vô vọng của những người phụ nữ chân quê chất phác và con cái họ, nạn nhân của căn bệnh thế kỷ.Vậy những người phụ nữ đó giờ ra sao? Tương lai của họ và con cái họ có thực sự vô vọng như những gì đã được miêu tả lúc đó? Tạp chí phụ nữ kỳ này xin được tìm hiểu về cuộc sống của những phụ nữ này.

Cơn bão HIV

Xã đó là xã Vũ Tây, thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nơi đã phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên vào năm 1999 và cũng được coi là xã có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất nước. Toàn xã với khoảng 9,000 nhân khẩu thì có đến 120 người nhiễm HIV. Và đó cũng là nơi câu chuyện về những người phụ nữ chân quê, không may nhiễm virus HIV, bắt đầu.

Về lại Vũ Tây những ngày tháng này, người ta có thể thấy bộ mặt làng quê đã đổi khác cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Chị Phượng, một người dân trong xã nói về bộ mặt làng quê mình thời mở cửa rằng “cơ sở hạ tầng ở Vũ Tây tốt, điều kiện kinh tế cũng rất khá.”

Xã em có một ông cai xây dựng làm ở mạn rừng núi trên, có bao nhiêu trai làng là cứ đi làm cùng đoàn đó. Một người lây nhiễm thì có thể lây cho cả đoàn mấy chục người luôn vì họ cùng sử dụng ma túy, sử dụng chung kim tiêm.

Chị Xuân, người dân xã Vũ Tây

Bắt đầu từ khoảng cuối những năm 1990 của thế kỷ trước, những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam bắt đầu lan tỏa đến các làng quê, trong đó có Vũ Tây. Người dân nơi đây vốn nhiều đời nay chỉ quanh quẩn bên lũy tre làng, với đồng ruộng, giờ đây bắt đầu đi làm ăn xa ngày một nhiều để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Trai tráng trong làng cứ lũ lượt đi lên mạn ngược hay vào thành phố, làm đủ mọi nghề từ xây dựng, phụ hồ, đến làm than để kiếm sống. Kinh tế khá lên, thì đi kèm với nó là các tệ nạn như nghiện hút, tiêm chích ma túy. Cũng từ đó, những ca nhiễm HIV đầu tiên xuất hiện và lan dần. Chị Xuân, một người dân trong xã cho biết:

“Xã Vũ Tây là xã phát hiện nhiễm HIV nhiều nhất vì nam giới trong xã hay phải đi làm ăn xa, không có nghề phụ ở nhà. Xã em có điểm đặc biệt là có một ông cai xây dựng làm ở mạn rừng núi trên. Một năm ông cứ về lấy quân hai lượt như thế, thì có bao nhiêu trai làng là cứ đi làm cùng đoàn đó. Một người lây nhiễm thì có thể lây cho cả đoàn mấy chục người luôn vì họ cùng sử dụng ma túy, sử dụng chung kim tiêm.”

Thiếu hiểu biết về HIV/AIDS

Một nghiên cứu gần đây về đời sống tình dục của những người lao động đi làm xa gia đình cho thấy những người đàn ông đi làm ăn xa, một năm phải xa vợ đến mấy tháng trời, không ít người trong số họ tìm cách giải quyết nhu cầu tình dục bằng cách có quan hệ với gái mại dâm. Nhưng vì do thiếu kiến thức, họ không sử dụng bao cao su để bảo vệ cho mình. Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội cho biết:

“Họ có ít điều kiện tiếp cận đến những thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, hoặc quan hệ tình dục, hoặc dịch vụ xã hội y tế để cung cấp thêm kiến thức và dịch vụ cho họ khi cần. Ở Việt Nam có nhiều ngôi làng mà người ta gọi là làng HIV, vì người chồng đi làm xa rồi mang HIV về cho vợ. “

HIV tràn về Vũ Tây, chị Xuân, 39 tuổi, là một trong những nạn nhân của cơn bão này. Chị phát hiện mình bị bệnh vào năm 2003 sau khi chị có thai cháu thứ ba được 6 tháng và được xét nghiệm ở xã. Chị nói:

“Em cũng là nạn nhân của đại dịch này vì chồng em làm ăn xa thì cũng có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, có sử dụng ma túy, đi làm thì cũng không biết vì không thể kiểm soát được. Sau đó em mang thai đi xét nghiệm mới biết được. Lúc đấy thì chồng đã chuyển sang giai đoạn 4 rồi.”

000_Del397012-250.jpg
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến thăm trẻ mồ côi nhiễm HIV tại chùa Ngọc Lâm ngày 22 tháng bảy năm 2010. AFP Photo/Paul J. Richards

Chồng chị mất trước khi chị sinh cháu. Sự thiếu hụt về kiến thức của căn bệnh đã khiến chị lo lắng, vì nghĩ rằng mình chắc chẳng còn sống được bao lâu:“Lúc đấy thực sự ra mình không có kiến thức nào, mình chỉ lo lắng vài năm nữa chúng mất cha, còn mình, không biết liệu mình có thể giữ được cái thai an toàn không. Lúc đó chả có tâm trạng nào sinh con cả.”

Không những thế, báo chí trong nước lúc đó được tin về Vũ Tây là xã có nhiều người nhiễm HIV, đã đổ về đây viết tin về những người phụ nữ không may nhiễm bệnh. Hình ảnh mà một số báo miêu tả về các chị và con cái của các chị đã không những không an ủi, khuyến khích các chị sống mà còn làm cho các chị lo lắng hơn. Chị Xuân nhớ lại:

“Trước đây em không biết, khi tiếp xúc với một số phóng viên, họ giới thiệu họ ở bên báo Sức khỏe gia đình, nhưng sau đó lại đăng trên An ninh thế giới. Bọn em cũng chia sẻ thông tin nhưng họ viết thì lại đưa ra nhiều ý kiến tiêu cực. Ví dụ họ đưa ra cụ thể một cặp vợ chồng nào đấy, họ nói là án tử hình cho gia đình nhà này, thì em nghĩ đó là tiêu cực cho gia đình người bị nhiễm. Bọn em muốn chia sẻ với những người có nguy cơ cao, những người bị nhiễm để họ có nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Ở đây một số phóng viên người ta viết lại đưa bi quan.”

Họ có ít điều kiện tiếp cận đến những thông tin về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, hoặc quan hệ tình dục, hoặc dịch vụ xã hội y tế để cung cấp thêm kiến thức và dịch vụ cho họ khi cần.

Tiến sĩ Khuất Thu Hồng

Những người phụ nữ gặp tình cảnh như chị Xuân ở xã Vũ Tây lúc đó không hiếm. Họ gặp những khó khăn ban đầu như sự phân biệt đối xử của xã hội, thêm vào đó là những khó khăn về kinh tế. Những người đàn ông, trụ cột gia đình, mắc bệnh và mất để lại gánh nặng gia đình lên vai những người vợ cũng không may nhiễm virus do chồng truyền lại. Chị Phượng, 34 tuổi, người cũng bị nhiễm HIV từ chồng, cho biết:

“Những người bình thường có đủ vợ chồng có đủ sức khỏe thì việc nuôi con ăn học đã là một vấn đề. Bản thân tôi sức khỏe thì làm cũng có hạn, còn chồng tôi khi bị bệnh cũng không làm gì nữa, chỉ quanh quẩn làm ruộng ở nhà, chăn nuôi con gà con lợn. Cuộc sống khó khăn nhưng chúng tôi phải khắc phục vì còn lúc ốm lúc đau, con đi học.”

Chồng chị Phượng mới mất cách đây không lâu do bị u não, không liên quan đến các bệnh cơ hội do AIDS gây nên.

Tuyên truyền để giúp nhau

Những khó khăn trong cuộc sống đã không làm cho những người phụ nữ ở xã Vũ Tây chùn lòng. Họ đã vươn lên, bươn chải, kiếm sống nuôi con ăn học. Và không những thế, họ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS.

Tháng 2 năm 2005, nhóm Vì Ngày mai Tươi sáng của những người nhiễm HIV lần đầu tiên được thành lập tại Vũ Tây, và cũng là câu lạc bộ tự lực của người có HIV đầu tiên tại tỉnh. Chị Xuân là trưởng nhóm. Từ 8 thành viên ban đầu, với 5 nam, 3 nữ, giờ nhóm đã có 85 người bao gồm cả những người từ các xã khác. Chị Xuân nói về hoạt động của nhóm như sau:

“Mục đích ban đầu chỉ đơn giản là tập trung mọi người để chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần thôi. Sau đó có nhiều hoạt động hỗ trợ, cho vay vốn tạo thu nhập, nghề phụ cho người có HIV, làm công tác truyền thông. Bây giờ cuộc sống của chị em cũng ổn định rồi. Mấy năm trước thì vừa lo đời sống tinh thần, vừa lo vật chất vì những chị em chồng mới qua đời ai cũng khó khăn. Dần dần mọi người vượt lên vì ai cũng làm thêm nghề phụ, người thì vào công ty may, người đan lát thêm ở nhà. Phần lớn chị em đều tự lo được, nuôi con được.”

Những năm đầu thành lập, các thành viên còn phải tự đóng góp tiền để lúc nào trong nhóm có ai ốm đau hay ma chay còn có kinh phí để mua quà thăm hỏi. Nhưng những năm gần đây, được sự hỗ trợ kinh phí từ các dự án nước ngoài như của Ngân hàng Thế giới, những thành viên của nhóm đã không phải tự đóng tiền nữa.

aids-china-250.jpg
Sinh viên Trung Quốc sử dụng ruy-băng đỏ kết thành chữ AIDS tại tỉnh An Huy hôm 30/10/2009. AFP photo

Không những thế, họ còn có thêm nhiều hoạt động truyền thông trong xã, huyện về HIV/AIDS cho người dân, tuyên truyền giúp phòng chống HIV/AIDS. Chỉ riêng năm 2009, nhóm đã thực hiện được 26 cuộc truyền thông trong huyện, chủ yếu là các buổi biểu diễn văn nghệ ở sân vận động xã. Diễn viên là những người nhiễm HIV, có nói chuyện về phòng chống HIV/AIDS, phát tờ rơi và bao cao su miễn phí cho người dự.Ngoài ra, các chị em phụ nữ trong nhóm cũng thường xuyên đến các gia đình có chồng hay phải đi làm ăn xa để tuyên truyền về cách phòng chống bệnh cho gia đình. Chị Xuân cho biết thêm:

“Bọn em tranh thủ những tháng ngày mưa, tháng tết họ về mình đi làm truyền thông, mình mang tờ rơi rồi mình đến tận nhà tuyên truyền cho những người đi làm ăn xa. Chị em chia nhau ra các thôn, các đối tượng có nguy cơ cao. Ví dụ có nghe về đối tượng này có nguy cơ cao thì mình đến tuyên truyền nhiều hơn, cách sử dụng bao cao su, sử dụng bơm kim tiêm riêng. Ở trên miền núi thì việc mua kim tiêm rất khó, nên nhiều anh em mua về sử dụng chung cho cả một nhóm người. Bọn em hướng dẫn họ cách sử dụng như thế nào, làm thế nào để tiệt trùng kim tiêm.”

Cũng vì tích cực tuyên truyền, nên kiến thức của người dân trong xã Vũ Tây về căn bệnh thế kỷ đã cải thiện. Những thành viên trong nhóm Vì Ngày mai Tươi sáng cho biết sự phân biệt kỳ thị đối với những người nhiễm virus HIV ở xã giờ đây đã có những cải thiện đáng kể. Con em của các gia đình có người nhiễm HIV đã được đi học hòa nhập với các bạn. Bản thân các chị phụ nữ và các ông chồng cũng chủ động đến xin bao cao su để tự bảo vệ mình. Chị Phượng cho biết:

“Bản thân tôi là trưởng một câu lạc bộ, nhà tôi có bao cao su. Những người đi làm ăn xa họ chủ động đến xin bao mang đi. Có những người vợ khi biết sắp đến mùa mưa rồi thì đến xin bao về. Có những ông chồng rất khó nhưng mình cũng phải giải thích để họ hiểu về thuyết phục chồng mình.”

Ở Vũ Tây, những người đi làm ăn xa thường về quê một năm hai lần. Một lần vào mùa mưa khoảng 1 tháng hoặc hơn, và một lần vào dịp Tết.

Bên cạnh những tiến bộ nhất định trong công tác phòng chống HIV/AIDS có phần đóng góp rất lớn của các chị em phụ nữ, bản thân các chị vẫn gặp những khó khăn nhất định trong cuộc sống. Theo chị Xuân, một trong những khó khăn lớn nhất đó là vấn đề kỳ thị ở bên ngoài địa bàn các chị sống và do đó ảnh hưởng đến công ăn việc làm của các chị.

Ở trên miền núi thì việc mua kim tiêm rất khó, nên nhiều anh em mua về sử dụng chung cho cả một nhóm người. Bọn em hướng dẫn họ cách sử dụng như thế nào, làm thế nào để tiệt trùng kim tiêm.”

Chị Xuân, người dân xã Vũ Tây

Những chị em ở xã đã đi làm ở một số công ty hiện vẫn không dám công khai mình là người có HIV vì sợ mất việc, mặc dù luật phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam chống mọi hình thức phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS. Bản thân chị Xuân cũng không dám nói tên thật của mình vì lo ngại người con đầu của chị đang học đại học ở xa sẽ bị ảnh hưởng vì cái tiếng mẹ nhiễm HIV.

Mười năm đã trôi qua kể từ khi ca nhiễm HIV đầu tiên ở xã Vũ Tây được phát hiện. Trải qua mười năm đầy những khó khăn và thử thách, nhiều chị em phụ nữ trong xã, những người nông thôn Việt Nam bình dị không may nhiễm HIV vẫn sống khỏe mạnh và vui vẻ. Xin mượn lời nhắn của chị Phượng đến các chị em phụ nữ để làm phần kết cho bài này.

“Hãy chủ động trong việc tiếp cận thông tin này và tìm hiểu thông tin nhiều hơn để phòng tránh và chia sẻ với chồng con khi họ làm ăn xa.”

Việt Hà, phóng viên RFA
 

Thẻ: , , , , , , , ,

Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS trên phương tiện giao thông công cộng

Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS trên phương tiện giao thông công cộng

Năm 1990, Việt Nam phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên. Kể từ đó đến nay, số người nhiễm HIV ở Việt Nam ngày một tăng nhanh và đã chạm mốc 290.000 bệnh nhân. Mặc dù chính phủ việt Nam đã nỗ lực rất nhiều để ngăn chặn sự phát triển của căn bệnh nguy hiểm này nhưng kết quả đạt được vẫn chưa rõ nét. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là Việt Nam vẫn chưa tìm ra được phương pháp tuyên truyền hiệu quả xung quanh việc phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS. “Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS thông qua phương tiện giao thông công cộng tại Hà Nội” là một dự án tuyên truyền nhỏ của Danson Media được hỗ trợ bởi PEPFAR (Chương trình khẩn cấp về phòng chống HIV/AIDS của Tổng thống Mỹ) với mục đích tăng cường sự hiểu biết của giới trẻ đối với HIV/AIDS từ đó loại bỏ sự kì thị đối với người nhiễm bệnh.

Kết quả dự án

Một tấm poster với thông điệp “Những người bạn yêu thương cũng có thể nhiễm HIV. Hãy hiểu biết, chia sẻ và tìm kiếm sự giúp đỡ” được in trên các xe buýt chạy tuyến 24, 35, 201. Tất cả những tuyến xe này đều đi qua các khu đông dân cư và các trường Đại học lớn trong thành phố. Về cơ bản, dự án này đã đạt được những mục tiêu đề ra. Theo thống kê từ TCT Vận tải Hà Nội, số hành khách đi trên những chiếc xe buýt có in poster phòng chống HIV/AIDS và hành khách đứng chờ xe buýt nhìn thấy những poster này có thể lên tới hàng triệu người. Một nhân viên của dự án cũng đã theo đi theo các xe buýt này và đếm số lượng người đi xe cụ thể. Con số thu được cho thấy trung bình mỗi ngày có 2.400 hành khách đi trên các chuyến xe. Bên cạnh đó, số lượng người đi đường nhìn thấy poster này cũng rất lớn.

Thông tin về dự án cũng được phát trên chương trình “Cuộc sống thường ngày” trên VTV 1 ngày 1/4/2009 và những báo online thu hút đông đảo độc giả là thanh thiếu niên.

Đánh giá dự án

Một cuộc khảo sát nhanh đã được thực hiện đối với giới trẻ để đánh giá sơ bộ hiệu quả của dự án tuyên truyền này. 200 bạn trẻ thường xuyên đi xe buýt đã được hỏi, trong đó 70% trong số này cho biết họ đã nhiều lần nhìn thấy tấm poster trên xe buýt. Họ cho rằng thông điệp cũng như hình ảnh trên poster rất gây ấn tượng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất trong suốt quá trình thực hiện dự án mà Danson Media ghi nhận được đó là không chỉ hành khách đi xe buýt mà rất nhiều người tham gia giao thông khác cũng đã nhìn thấy, chú ý và đọc được thông điệp in trên poster.  Rõ ràng việc lựa chọn thông điệp, hình ảnh trên poster đã thành công khi nó đáp ứng được mục đích của dự án này là thu hút sự quan tâm, chú ý của cộng đồng đối với HIV/AIDS.

Hợp tác chống lại HIV/AIDS

Nhận thức được sự tàn phá của đại dịch HIV – một trong những thách thức nguy hiểm đối với sức khỏe con người, Chương trình cứu trợ khẩn cấp về phòng chống HIV/AIDS của tổng thống Mỹ (PEPFAR) đã được thành lập năm 2003. Đây là sáng kiến y tế quốc tế lớn nhất trong lịch sử của một quốc gia để chống lại một căn bệnh. Tháng 3/2004, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 15 nhận được hỗ trợ của PEPFAR. từ đó đến nay, PEPFAR đã viện trợ cho Việt Nam hơn 233,7 triệu USD nhằm cải thiện các dịch vụ phòng chống lây nhiễm, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại Việt Nam. Tính đến hết năm 2008, 24,500 người đã được điều trị kháng virus; 55,000 bệnh nhân dương tính với HIV được hỗ trợ và chăm sóc; 6,800 trẻ em mồ côi và trẻ dễ bị ảnh hưởng đã nhận được hỗ trợ; 609,300 phụ nữ có mang đã được xét nghiệm và tư vấn về HIV; 2,300 phụ nữ mang thai nhiễm HIV đã được điều trị để chống lây nhiễm từ mẹ sang con; 184,000 người được tư vấn và xét nghiệm HIV; 375,200 người được tham gia các hoạt động cộng đồng phòng chống HIV/AIDS như sống chung thủy…; 480,600 người được tham gia các hoạt động phòng chống HIV/AIDS như sử dụng bao cao su…; 34,998,000 bao cao su đã được cấp phát.


 

Thẻ: , , , ,

Một cách phòng chống HIV/AIDS hữu hiệu ở Ðồng Tháp

Tính đến đầu tháng 7/2004, tổng số người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện ở Ðồng Tháp là 2.069 trường hợp (chuyển sang AIDS là 773, tử vong 314), số trường hợp mới nhiễm được phát hiện trung bình khoảng 36 người/tháng, chưa có dấu hiệu dịch dừng lại. Xu hướng nhiễm HIV ở Ðồng Tháp phù hợp với tình hình lây truyền chung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) chủ yếu qua đường tình dục, ít nhiều liên quan đến việc di dân qua lại biên giới Campuchia. Dịch đang tiếp tục lan rộng ra khu vực nhóm dân cư bình thường. Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV như tiêm chích ma túy, sử dụng bơm kim tiêm chung, quan hệ tình dục không an toàn vẫn là nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình phát triển của dịch ở tỉnh này. Thời gian qua, tỉnh Ðồng Tháp đã đầu tư và chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức lồng ghép rất nhiều các hoạt động truyền thông (với văn hóa, thể thao, giao lưu văn nghệ…) để phòng chống AIDS, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về sự lây nhiễm HIV/AIDS, tránh kỳ thị với người nhiễm để góp phần khống chế dịch. Ai cũng biết, đối với mảnh đất vùng sông nước Nam Bộ nói chung và Ðồng Tháp nói riêng, loại hình nghệ thuật thấm vào “máu” của mỗi người dân và có sức lay động, lan tỏa nhất trong cộng đồng dân cư là loại hình nghệ thuật cải lương. Từ tình hình thực tế trên, Sở y tế Ðồng Tháp đã chỉ đạo Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) tỉnh phối hợp cùng Ðoàn Văn công Ðồng Tháp dựng vở cải lương Sát thủ vô hình (STVH) nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục người dân thực hiện Chương trình hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS.

Giữa lúc cải lương vắng khách ở các đô thị lớn như TP.HCM thì Ðoàn văn công Ðồng Tháp (từng diễn phục vụ các đại hội Ðảng toàn quốc) lại luôn “bận rộn” và sáng đèn quanh năm. Ðây là đoàn cải lương được xem là mạnh nhất, nòng cốt nhất không chỉ của tỉnh mà của cả ÐBSCL hiện nay. Trưởng đoàn Ðinh Minh Mẫn cho biết: “Sau khi nhận được sự chỉ đạo của tỉnh, Ðoàn chúng tôi đã không đặt nặng vấn đề kinh doanh, sẵn sàng góp thêm chi phí cùng TTYTDP Ðồng Tháp ngày đêm dàn dựng vở cải lương STVH để phục vụ người dân đồng bằng, góp một chút công sức nhỏ bé cùng với xã hội trong phòng chống AIDS”. Tính đến nay, Ðoàn đã đi phục vụ không doanh thu ở 4 huyện, thị trong tỉnh gồm thị xã Cao Lãnh, thị xã Sa Ðéc, huyện Tam Nông và huyện Hồng Ngự, trung bình mỗi đêm diễn từ 2.000 đến 3.000 lượt người xem. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Ðồng Tháp (Domesco) đã tài trợ cho Ðoàn thêm 8 đêm diễn ở các huyện: Cao Lãnh, Tháp Mười, Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vô, Thanh Bình và huyện biên giới Tân Hồng. Bên cạnh đó, đoàn đã dành một đêm (20/8/2004) để diễn phục vụ cho cán bộ, bác sĩ Bệnh viện đa khoa Ðồng Tháp và nhân dân Mỹ Tân. Vở diễn có đề tài phòng chống AIDS hiện đang gây được tiếng vang, được người dân nồng nhiệt đón nhận mỗi nơi đoàn lui tới. Trưởng đoàn Ðinh Minh Mẫn rất nhiệt huyết cho hay: “Vở vẫn còn đang trên đường lưu diễn liên tục, chúng tôi sẽ đến những địa phương có lời mời. Chúng tôi đang chuẩn bị đợt diễn kế tiếp do UBND huyện Cao Lãnh mời diễn phục vụ 5 xã trong huyện để tuyên truyền cho nhân dân biết được căn bệnh thế kỷ trên!”. Tin rằng, bằng nỗ lực của mình, Ðoàn văn công Ðồng Tháp với vở STVH sẽ cùng với xã hội góp phần phòng chống AIDS một cách hữu hiệu bằng lời ca, tiếng hát và sẽ “sáng đèn” dài dài ở khắp “hang cùng ngõ hẻm” của vùng sông nước Nam Bộ!

(Theo Báo Sức khỏe & Đời sống ngày 16/9/2004)

 

Thẻ: , , ,

Để chị em ngày càng hiểu biết về HIV/AIDS

Hiện nay, khi dịch HIV/AIDS đã lan tràn ra cộng đồng đồng, phụ nữ và trẻ em đang phải đối diện với nguy cơ nhiễm HIV là rất cao. Trước tình hình đó, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Gia Lai đã thường xuyên phối hợp với các cấp, ngành, tuyên truyền thức về HIV/AIDS với phương châm, mỗi người hiểu biết về HIV/AIDS một chút là cũng tránh được phần nào nguy cơ lây nhiễm.

Bà Nguyễn Thị Tố Hường, Phó Chủ tịch hội cho biết: “Hội có kế hoạch hướng dẫn các cấp Hội tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục cho chị em hội phụ nữ nâng cao kiến thức phòng, chống HIV/AIDS gắn liền với truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Cung cấp cho họ cẩm nang bảo vệ hạnh phúc gia đình, biết cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời khuyến khích chị em đang mang thai đến các cơ sở Y tế để được khám và tư vấn về sức khoẻ, dinh dưỡng cho thai nhi”.

Hội đã  phối hợp liên ngành tổ chức truyền thông trên cả 16 huyện, thị trong tỉnh truyền thông phòng, chống HIV/AIDS. Tư vấn cho hội viên, đặc biệt là những hội viên có con em, người thân nhiễm HIV cách chăm sóc, cũng như không phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho họ hoà nhập cộng đồng. Nhân các ngày truyền thống của phụ nữ như 8/3 hay 20/10, Hội phụ nữ các cấp tổ chức sinh hoạt, lồng ghép chương trình phòng, chống HIV/AIDS dưới hình thức toạ đàm, hái hoa dân chủ, thi tìm hiểu về HIV/AIDS. Ngoài ra, Hội cũng duy trì được các mô hình câu lạc bộ phòng, chống HIV/AIDS, câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, câu lạc bộ gia đình trẻ… Từ những hoạt động của các câu lạc bộ này, các hội viên luôn hăng hái vận, động, tuyên truyền cho những người trong độ tuổi sinh đẻ kế họach hoá gia đình,  chị em mới kết hôn có những kiến thức cơ bản về “nữ công gia chánh”…

Với phong trào ba không: “Gia đình hội viên phụ nữ không tham gia các hoạt động tin lành Đêga, không mắc các tệ nạn xã hội, không vi phạm pháp lệnh dân số”, Hội đã vận động được trên 19 nghìn gia đình đăng ký thực hiện cam kết không để chồng, con và người thân mắc các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma tuý, mại dâm, hai đầu vào của HIV/AIDS. Những xã biên giới, một tiếng gà gáy là ba nước cùng nghe thuộc huyện Ia Glai, Chư Prông và Đức Cơ được chọn làm thí điểm. Những người tham gia ngày một đông và hội cũng biểu dương những hội viên nòng cốt  và điển hình có thành tích xuất sắc trong phong trào này. Để phòng, trào phòng, chống HIV/AIDS có “tiếng vang”, thu hút được nhiều người tham gia, Hội đã lồng ghép chương trình phòng, chống HIV/AIDS  vào trong các hoạt động vay vốn tạo đà làm ăn, buôn bán, sản xuất, chăn nuôi cho chị em.

Bên cạnh đó, những người nhiễm HIV luôn thay đổi nơi ở, chuyển nơi làm, hoặc khai báo không đúng địa chỉ làm cho việc quản lý, ghi hồ sơ, chăm sóc, tư vấn hết sức khó khăn. Chị Nguyễn Thị Hương, chuyên viên cho chúng tôi biết: “Đa số phụ nữ nhiễm HIV không cho biết tên, họ còn né tránh vì mặc cảm, sự kỳ thị, phân biệt và đối xử của người dân còn lớn. Phần đông phụ nữ chưa biết tiếng phổ thông nên việc tuyên truyền kiến thức về HIV/AIDS còn nhiều hạn chế”. Khó khăn là vậy, nhưng mỗi lần thực hiện thành công một buổi tuyên truyền có nhiều chị em tham gia thì xem như là thành công…

Tạp chí AIDS và Cộng đồng (Số 5/2009)

 

Thẻ: , ,

Phòng chống HIV kiểu… Uganda

(TNO) Uganda là nơi từng có tỉ lệ người dân nhiễm HIV cao nhất thế giới: đến hơn 20% dân số. Bây giờ, con số đó giảm xuống còn 6,7%. Sự thành công có phần rất lớn từ những quyển sách dành cho trẻ con, những quyển sách mà cả người lớn đọc còn bị sốc!

Những câu chuyện nhức nhối

Trên trang bìa quyển sách mang tên Vì sao Kwezi gặp rắc rối là hình ảnh một nữ sinh ngồi trên ghế nhà trường ôm mặt khóc.

Kwezi gặp rắc rối vì không làm bài tập về nhà? Hay cô bé chép bài của bạn trong giờ kiểm tra? Hay Kwezi bị điểm xấu?

Tất cả đều không đúng.


Nghèo đói và thất học khiến lục địa đen trở thành điểm nóng nhất của căn bệnh thế kỷ – Ảnh: AFP

Câu trả lời có trong dòng chữ được in ở bìa sau của quyển sách: “Tại đám tang của mẹ, Kwezi bị bạn thân nhất của người cha đã quá cố hãm hiếp. Kwezi chẳng biết khóc cùng ai ngoại trừ người mẹ đang nằm trong mộ. Mang trong người căn bệnh AIDS, Kwezi quyết định nói cho những học sinh khác biết AIDS nguy hiểm đến nhường nào”.

Và câu chuyện đau đớn, đau đến nhức nhối với những mô tả rất dã man của cô bé được viết ra, nhắm đến đối tượng độc giả từ… 8 đến 10 tuổi!

Mục đích của nó, như được nêu rõ trong dòng giới thiệu ở bìa sau quyển sách, là để giáo dục trẻ em chống AIDS.

Ở đất nước từng có tỉ lệ nhiễm HIV cao nhất thế giới này, giáo dục chống AIDS là chuyện rất nghiêm túc, được bắt đầu ngay khi con người ta còn mới làm quen với chuyện cổ tích.

Một quyển sách khác, được rất nhiều học sinh đọc, thì kể về chuyện hai chú nhóc mới 12 tuổi quan hệ tình dục cùng lúc với một cô bé. Đó là một đứa trẻ nhiễm AIDS. Hậu quả thật đau buồn: cả hai chú nhóc đều bị lây bệnh và chết trước khi với tay được tới tuổi trưởng thành.

Nhìn thẳng vào vấn đề

Ở các thành phố lớn của Uganda, những băng-rôn cổ động chống AIDS một cách kín đáo không phải là hiếm, chẳng hạn như: “Bạn gái ấy giữ mình cho đến khi kết hôn, còn bạn thì sao?”. Nhưng có thể dễ dàng nhận thấy băng-rôn này mang biểu tượng của một tổ chức Công giáo ở nước ngoài.

Còn Chính quyền Uganda thì chọn cách nói rõ và rất rõ.

“Khi con sư tử bước vào làng, anh phải rung chuông báo động thật lớn” – đó là phương châm chống AIDS của Tổng thống Uganda, ông Yoweri Museveni.

HIV ở Uganda 

Số người nhiễm HIV: 940.000
Trẻ em từ 0-14 tuổi nhiễm HIV: 130.000
Số người đã chết vì AIDS: 77.000

Ở vế đầu tiên, chính quyền Museveni chưa bao giờ phủ nhận sự hiện diện và sức phá hoại khủng khiếp của “con sư tử.” Còn ở vế thứ hai, tiếng chuông mà họ đã rung lên khiến không ít người, ở cả ngoài và trong “làng Uganda” phải bật ngửa vì sốc.Không sốc làm sao được, khi một quyển sách viết cho trẻ em lại có những đoạn mô tả thẳng thừng, mô tả rất dã man cảnh một nạn nhân bị tài xế taxi hãm hiếp?

Và không chỉ có chính quyền Uganda mới tìm cách nâng cao nhận thức của trẻ con về sự nguy hiểm của AIDS. Rất nhiều những quyển sách kiểu như trên do trẻ em viết, các nhà xuất bản thương mại phát hành. Chính phủ hậu thuẫn điều này, giúp sách mau chóng đến tay các trường học và các bậc phụ huynh.

Sách chống AIDS thay truyện thần tiên

Nếu như ở hầu hết các nơi trên thế giới này, cha mẹ chỉ quen đọc và mua truyện cổ tích cho con trẻ thì ở Uganda, các bậc phụ huynh quan tâm rất nhiều đến những câu truyện đau đớn kiểu như trên.


Cuộc chiến chống AIDS chưa bao giờ đơn giản ở khắp nơi trên thế giới này – Ảnh: Reuters

Cứ thử tưởng tượng cảnh một bà mẹ mua cho con gái 7, 8 tuổi quyển sách có nội dung mô tả cảnh bị hãm hiếp, sẽ thấy viễn cảnh này kinh khủng như thế nào.

Nhưng ở Uganda thì khác. Juliet, một bà mẹ 33 tuổi kể với phóng viên của hãng truyền thông BBC rằng cô đã mua một quyển sách loại này cho con gái 11 tuổi và bây giờ quay lại tiệm sách để tìm mua tiếp sách cùng loại.

Bằng một giọng thản nhiên, Juliet nói rằng con gái cô rất thích đọc quyển sách đầu tiên. Theo cô, chính những quyển sách là cách tuyệt vời để hai mẹ con có thể thảo luận về những đề tài khó nói như tình dục an toàn.

Khi được hỏi bản thân có thoải mái không khi đọc cho con nghe những đoạn “dã man” trong sách, Juliet vẫn rất thản nhiên: “Tất nhiên là tôi thoải mái. Bằng cách này con bé có thể bảo vệ được bản thân nó vì nó biết hết”.

Với một bà mẹ mà “vào thời của tôi, trước đêm tân hôn, mấy bà dì sẽ đến để chỉ vẽ về tình dục”, sự thay đổi trong tư duy như Juliet quả là cả một cuộc cách mạng vĩ đại.

Lý do Juliet và nhiều bà mẹ khác thực hiện “cuộc cách mạng vĩ đại” đó là do thời thế: “Bây giờ chúng tôi đang phải sống chung với HIV, chúng tôi  bắt buộc phải thảo luận với con về điều này”, Juliet chia sẻ.

Đoan Nhật

 

Thẻ: ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers