RSS

Bức thư gửi Ba

Ai cũng viết thư cho người đang sống , người đang quan tâm chăm sóc mình còn con thì…

Con trở lại trường sau 3 ngày nghỉ học chịu tang cha. Buổi trở lại trường đầu tiên nghe tiếng trống tan trường con vội xếp vở vào cặp rồi như thường lệ đứng trước cổng trường để đợi… tuổi thơ làm con mong vào những điều kỳ diệu, mong nỗi bất hạnh đều không phải sự thật nhưng đến quá trưa nhìn lại sân trường vắng lặng và trước cổng trường chỉ còn mình con đứng đợi… con bang hoàng nhận ra rằng con đã mất cha thật rồi và từ đây cha không còn đến trường để đón con được nữa. Hai hang nước mắt bỗng chảy dài, nắng buổi trưa rọi xuống đường hình đứa con gái lủi thủi đi về mà long hụt hẫng, xót xa.

Cha chỉ đau trong một thời gian ngắn rồi bất ngờ bỏ chúng con với mẹ mà đi, lúc đó con mới 11 tuổi. Nỗi mất mát đó quá lớnvà quá sớm. 100 ngày cha mất mẹ bảo thôi từ nay dừng cúng cơm mà thay vào đó luôn thắp nhang cho cha. Mẹ cũng muốn nỗi đau lắng xuống để chúng con tập trung học hành nhưng mỗi bữa ngồi vào mâm cơm chúng con lại đặt một bát cơm, một đôi đũa cùng thức ăn cha thích nơi mà cha vẫn ngồi trong mâm cơm. Biến cố đau đớn ấy đã đem lại bao mất mát và càng khôn lớn con càng thấm thía đó là những thiếu thốn không gì bù đắp nổi.

Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn, bấp bênh vô cùng. Đôi vai mỏng manh của mẹ như oằn xuống trước gánh nặng của gia đình quá lớn, giữa ngày còn cha và ngày  mất cha dường như là 2 thế giới khác biệt.

Cha đâu biết được sự vô tâm lạnh lẽo của những người thân sau đó nữa. Cha mất, mẹ phải đối mặt với tất cả. quả thực căn bệnh HIV/ AIDS nó là quá xa vời với suy nghĩ của làng xóm và của những người thân trong nhà. Cha biết không người ta nói xấu, người ta xúc phạm, mỉa mai, xa lánh mẹ con con nhiều lắm. Chúng con buồn nhiều và bực tức trong lòng lắm và thường nghĩ có cha ở đây xem, họ sẽ phải nín nặng vì tiếng nẹt của cha. Tiếng cha mạnh và đầy uy quyền. Nhưng con có  biết đâu nỗi buồn của con thấm gì so với những giọt nước mắt thấm ướt gối hằng đêm của mẹ chứ. Những khi người ta bắt nạt chúng con mẹ bảo đừng sợ có mẹ rồi, mẹ sẽ thay cha đánh đòn chúng. Và rồi những năm tháng sau này quả thật chúng con cảm nhận rằng mình thật sự có cả cha và mẹ. Mẹ lúc dịu dàng ân cần dạy bảo, lúc thật nghiêm khắc đánh đòn, sữa chữa những lỗi sai trái của chúng con. Mẹ đánh đòn xong sau đó mẹ lại ôm chúng con vào lòng xót xa trong tiếng nấc. Lúc cha mới mất, chúng con còn nhỏ dại, nhiều lúc không vâng lời mẹ làm mẹ buồn nhiều vô tình con đã làm nỗi đau trong mẹ khó lành và thêm sâu. Lớn dần chúng con hiểu được rằng mẹ không phải chỉ sống với chúng con mà mẹ đang phải sống chung với con rồng HIV hung ác luôn làm mẹ ốm mệt và tấn công cấu xé các chiến binh bạch cầu trong máu mẹ làm mẹ mỗi ngày thêm yếu đi. Rồi có thể một ngày nào đó mẹ sẽ rời xa chúng con theo cha mà đi mãi mãi. Không, con sợ lắm, con chỉ mong luôn luôn được ở trong vòng tay yêu thương của mẹ. Con vẫn thầm mong có phương thuốc nào đó trị được con rồng đáng ghét đó, loại nó ra khỏi mẹ thì mẹ vẫn đi làm, chạy chợ rồi lo việc đồng áng, nhà cửa, chăm lo cho chúng con học hành.

Rồi thật vui, khi mẹ gặp những người cùng cảnh ngộ như mẹ, họ tới cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn đớn đau với mẹ. mẹ dần vui hơn rất nhiều, mẹ thoải mái tinh thần bớt u buồn quá khứ. Thế rồi một Câu lạc bộ được sáng lập nên do mẹ đi đầu trong việc chia sẻ kinh nghiệm về phòng tránh lây truyền cho những người xung quanh. Cùng những hiểu biết và trải nghiệm thực tế, mẹ đã giúp được nhiều người có cái nhìn lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống hơn và cảm thấy cuộc đời còn nhiều ý nghĩa.

Con thầm tự hào về mẹ, mẹ con rất mạnh mẽ đã vượt qua sự đau xót cả về thể xác lẫn tinh thần vượt lên tất cả những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống. mẹ vừa phải lo kinh tế gia đình, chật vật kiếm từng đồng cho chúng con ăn học được bằng bạn bè, vừa phải đối diện với bệnh tật và những tổn thương trong lòng, thục sự là những điều không nên xảy ra cho những phụ nữ yếu đuối phải không cha. Bao năm mất cha là bấy nhiêu năm chúng con ngậm ngùi, xót xa khi nhớ về cha vì thế khi nhìn thấy những đứa trẻ nhỏ mất cha, lòng con thật chua xót, day dứt. Những đứa con còn cha thật là niềm hạnh phúc, con không còn cha là một nỗi bất hạnh lớn.

Nhưng thay vào đó là một người cha tóc dài đã bù đắp cho chúng con tất cả. người cha tóc dài mà lòng con ngưỡng phục và luôn thầm hứa dù sau này có đi xa cũng sẽ thường xuyên trở về thăm và trao lại sự yêu thương mà người  cha ấy đã dành cho mình.

Bạn bè thường khuyên con hãy nhớ về những điều vui để lòng mình thanh thản, nhiều quan trọng nhưng con thấy cũng chính trong nỗi bất hạnh nếu biết nhận ra một điều quan trọng trong suy nghĩ  và theo đuổi nó thì không nên quên phải không cha. Hạnh phúc và niềm vui của mẹ con sẽ mãi là điều mà chúng con theo đuổi. Mẹ con xứng đáng là: “ Người cha tóc dài tuyệt vời nhất” cha nhỉ.

Thế giới vật chất đã không cho phép con gửi bức thư này đến với cha, nhưng con tin rằng trong tình phụ tử cha vẫn đọc được lòng con cũng như những đau đơn mà mẹ phải trải qua cùng những niềm vui đang thêm lên mỗi ngày trong mẹ. Những ngày mất cha sau này sẽ là những “ngày có cha tóc dài” sẽ không còn khó khăn mệt nhọc và  những giọt nước mắt sẽ có những món quà vô giá, những nụ cười hạnh phúc.

Cha à, mọi điều con đã kể cho cha nghe rồi. Chắc là cha cũng đang rất vui và tự hào về mẹ con phải không cha? Người cha tóc dài sẽ mãi ở trong chúng con và không bao giờ rời xa chúng con.

                                                                                      Con gái cha

                                                                                   OVC Thái Bình

 
Leave a comment

Posted by on 11.05.2012 in Tôi & HIV

 

Thẻ:

Gia tăng tỉ lệ mắc ung thư hậu môn ở phụ nữ nhiễm HIV

(Dân trí) – Một nghiên cứu do các tác giả thuộc Trung tâm Y khoa Montefiore, Mỹ tiến hành cho thấy tỉ lệ ung thư biểu mô hậu môn (AC) đang gia tăng ở phụ nữ dương tính với HIV.
Các tác giả cho biết ung thư hậu môn thường xảy ra ở nam giới nhiễm HIV có quan hệ tình dục đồng giới. Song hiện tại nghiên cứu này phát hiện ra rằng các tổn thương tiền ung thư cũng chiếm tỉ lệ cao ở phụ nữ nhiếm HIV.

Họ đã kiểm tra 715 phụ nữ nhiễm HIV không có triệu chứng bệnh và phát hiện thấy 10,5% có biểu hiện bị một dạng bệnh ở hậu môn và khoảng 33% trong số đó được xác định là tiền ung thư.

Theo các nhà nghiên cứu thì điều này có thể là do vi-rút HIV “khích lệ” vi-rút HPV, vốn được xem là virus gây ra hầu hết các trường hợp ung thư hậu môn, tồn tại dai dẳng. Ngoài ra, những người nhiễm HIV cũng có nguy cơ cao hơn bị các dạng ung thư khác có liên quan đến HPV.

Nhóm nghiên cứu gợi ý rằng phụ nữ nhiễm HIV có những tế bào bất thường ở hậu môn, đặc biệt là những người bị HIV khó kiểm soát, nên tiến hành soi hậu môn. Ngoài ra, tất cả nam giới và phụ nữ nhiễm HIV cũng nên cân nhắc sàng lọc soi hậu môn. Theo các nhà nghiên cứu thì tỉ lệ mắc bệnh ở hậu môn mức độ nặng là thấp hơn ở những phụ nữ kiểm soát tốt HIV. Bên cạnh đó các xét nghiệm HPV cũng có thể hữu ích trong sàng lọc ung thư biểu mô hậu môn.

Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 3/2008 đến tháng 12/2010 và sẽ được đăng trên tạp chí Journal of Aids.

Anh Khôi

Theo MNT

 

Thẻ:

Cảm phục nữ tu sĩ vì bệnh nhân nghèo nhiễm HIV

Suốt gần 20 năm nay, từ khi Trung tâm Khám chữa bệnh từ thiện Kim Long (phường Kim Long, TP.Huế) ra đời, cũng là chừng ấy thời gian, một nữ tu sĩ bác sĩ đã tận lực chăm sóc những bệnh nhân nghèo, người bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Với nữ tu sĩ này, chính những người bệnh đã giúp bà có thêm niềm tin và động lực để tiếp tục làm một việc ý nghĩa cho xã hội, nhất là những người không may mắc phải căn bệnh AIDS. Người mà chúng tôi muốn nói đến đó là nữ tu sĩ bác sĩ Nguyễn Thị Điền, Giám đốc Trung tâm Khám chữa bệnh từ thiện Kim Long.

Sự hy sinh thầm lặng

Chúng tôi đến thăm Trung tâm Khám chữa bệnh từ thiện Kim Long vào một ngày mưa tầm tã. Trước mắt chúng tôi là hàng dài bệnh nhân nghèo chờ phát thuốc, khám chữa bệnh miễn phí. Nổi bật trong không gian tĩnh lặng là hình ảnh một nữ tu sĩ đang tận tình thăm hỏi sức khỏe của từng bệnh nhân. Nữ tu sĩ ấy chính là bác sĩ Nguyễn Thị Điền, một vị giám đốc của Trung tâm từ thiện đã có gần 20 năm tình nguyện khám chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho hàng triệu người dân nghèo, khó khăn, những bệnh nhân nhiễm HIV /AIDS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ở cái tuổi 55 nhưng trông sơ Điền (tên gọi thân mật của bác sĩ Nguyễn Thị Điền – PV) vẫn còn rất minh mẫn. Những câu chuyện về Trung tâm khám chữa bệnh từ thiện Kim Long, qua lời kể của sơ khiến chúng tôi cảm động và tự hào. “Cách đây hơn 19 năm, tôi và một người bạn (bác sỹ Bùi Thị Bông – PV) tốt nghiệp ngành y. Nhưng ý định xin làm việc cho một bệnh viện lớn tắt dần khi chứng kiến quá nhiều dân nghèo mắc bệnh mà đành bó tay. Chúng tôi huy động nguồn vốn ủng hộ từ các tấm lòng từ thiện lập nên Trung tâm khám từ thiện này”, sơ Điền bộc bạch.

Sơ Điền sinh ra và lớn lên trong thời kỳ chiến tranh bom đạn ác liệt tại vùng đất nghèo xã Vinh Hiền (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế). Năm 1979, sơ Điền tốt nghiệp trường Đại học Y Huế và thực hiện ước mơ đến những nẻo đường xa xôi để cứu lấy những con người nghèo khổ. Ngày đó, cứ ba tháng một lần, sơ Điền cùng với những thành viên trong trung tâm lại đi về phía những vùng Nam – Bắc sông Hương, nơi có những con người đang tuyệt vọng với số phận để vẽ nên cuộc sống cho họ, khơi dậy niềm tin vào cuộc sống.

Chứng kiến cảnh người dân nghèo mắc bệnh nhưng đành ngậm ngùi để cho bệnh tật mặc sức hành hạ bởi không có tiền chạy chữa, bà cùng một đồng nghiệp của mình nuôi ước vọng làm một điều gì đó cho người nghèo. Sau đó, ngày 11/11/1992, một phòng khám nhỏ mang tên Phòng khám từ thiện Kim Long ra đời. Những ca khám đầu tiên cho người nghèo đã diễn ra tại một phòng khám nhỏ thuộc số nhà 36, đường Kim Long, TP.Huế. Từ ngày phòng khám từ thiện Kim Long được mở, một y bác sĩ cùng nhóm thiện nguyện viên khác đã tìm đến góp công sức của mình để giúp bệnh nhân nghèo.

Một năm sau đó, chính quyền địa phương đã giao cho Phòng khám thêm một căn nhà nhỏ sát bên cạnh. Phòng khám được mở rộng thêm, nay đã có thể khám chữa bệnh cho 500 bệnh nhân mỗi tháng. Với sự năng nổ, nhiệt tình, hiệu quả, ngày càng nhiều các tấm lòng từ thiện đến ủng hộ, xây dựng cơ sở vật chất cho phòng khám. Năm 2003, phòng khám được nâng cấp lên thành Trung tâm khám chữa bệnh từ thiện Kim Long với dãy nhà 2 tầng tương đối khang trang.

Chính sơ Điền vừa là người điều hành trung tâm, vừa trực tiếp khám chữa bệnh cho những bệnh nhân nghèo trong tỉnh. Hàng tuần, hàng tháng sơ Điền đều vượt hàng chục cây số để đến với những bệnh nhân nghèo và người bị nhiễm HIV /AIDS trong tỉnh không thể đến trung tâm. Trò chuyện với chúng tôi, sơ Điền kể lại về những cuộc hành trình đi thăm khám bệnh nhân nghèo, bị nhiễm HIV của mình. “Tất cả các thành viên khi đến với trung tâm đều không nhằm mục đích gì khác là góp chút sức mình mong vơi bớt chút cơ cực cho người nghèo”, sơ Điền tâm sự.


Sơ Điều đang khám chữa bệnh cho bệnh nhân
Níu giữ những tâm hồn đau khổ

Nhiều bệnh nhân nhiễm HIV bị xã hội kì thị, bị gia đình ruồng bỏ, nhưng khi đến với Trung tâm Khám chữa bệnh từ thiện Kim Long, tâm hồn họ được khơi dậy với tình yêu thương cuộc sống. Đưa chúng tôi đến thăm một bệnh nhân nữ còn rất trẻ đang được điều trị tại Trung tâm, sơ Điền cho biết: “Cô bé này là bệnh nhân mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mấy tháng trước, khi biết mình mắc căn bệnh thế kỷ nên buồn lắm, rồi tìm đến trung tâm với niềm tin sẽ vượt qua nỗi đau bệnh tật”.

Theo sơ Điền, mỗi ngày trung tâm tiếp nhận gần vài trăm bệnh nhân nghèo, trong số họ rất nhiều người đã tuyệt vọng vào cuộc sống. Nắm bắt được tâm lý của người bệnh, nên khi vừa khám bệnh những thiện nguyện viên tại trung tâm vừa chia sẻ nhằm truyền cho họ niềm tin cuộc sống. Hàng tháng, nhóm thiện nguyện viên lại cùng nhau tìm về những gia đình nghèo có người thân bị nhiễm bệnh HIV /AIDS qua đời để lo việc chôn cất, động viên người thân. Bên cạnh đó, trung tâm còn gây quỹ phát học bổng cho những trẻ em nghèo hiếu học, bị nhiễm HIV.

Kể về một bệnh nhân của mình bị nhiễm HIV /AIDS ở xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền), đã qua đời cách đây vài tháng, đôi mắt sơ Điền bỗng đỏ hoe. Câu chuyện bị ngắt quãng bởi những tiếng nấc nghẹn ngào của vị giám đốc giàu lòng nhân ái Nguyễn Thị Điền. “Một ngày trước khi lìa xa cõi trần, anh nằm đó, mắt mở to, bát cháo không muốn ăn vì biết ngày mai mình sẽ phải xa trần thế, xa người thân”, sơ Điền kể lại.

Ngày đưa tang anh diễn ra trong một chiều mưa lũ. Chẳng có ai ở xóm làng tiễn anh về thế giới bên kia ngoài nhóm thiện nguyện viên của Trung tâm từ thiện Kim Long cùng sơ Điền. Đưa tiễn anh về thế giới bên kia, những người thiện nguyện viên ở trung tâm đều nghẹn ngào, rưng dòng nước mắt cảm thương cho số phận bi thương của bệnh nhân đó.

Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa, một trong những thành viên khá năng nổ của đội lưu động thuộc Trung tâm Khám chữa bệnh từ thiện Kim Long, tâm sự: “Có đi rồi thì mới biết còn có rất nhiều những người nghèo hoàn cảnh rất đáng thương, mắc bệnh cần tới sự giúp đỡ của mọi người”. Theo bác sĩ Hoa, trước đây khi nghe tin về trung tâm khám chữa bệnh từ thiện của sơ Điền, chị đã tình nguyện gia nhập với mong muốn góp thêm công sức vào việc giúp đỡ những người nghèo, những bệnh nhân HIV /AIDS.

Có lẽ với những người dân nghèo, khó khăn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, hình ảnh của sơ Điền không còn gì xa lạ, bởi chính sơ là người đã tình nguyện khám chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho hàng nghìn người dân nghèo, những bệnh nhân nhiễm HIV /AIDS khi họ đến với Trung tâm khám chữa bệnh từ thiện Kim Long suốt gần 20 năm qua.

Chia sẻ về trung tâm của mình, bác sĩ Nguyễn Thị Điền cho biết: “Trung tâm có thể chữa trị theo cả hai phương pháp đông y cổ truyền và tây y, với hàng chục đội ngũ y, bác sĩ và các thiện nguyện viên. Hiện trung tâm có 11 phòng nội nhi và phụ khoa, một phòng khám đông y, một phòng quang tuyến x và siêu âm, một phòng đợi, 3 phòng dành cho bệnh nhân nhiễm và ảnh hưởng HIV, đảm bảo công tác khám chữa bệnh miễn phí cho các bệnh nhân nghèo”. 

(Nguồn: bacbaphi.com.vn)

 

Thẻ: , ,

Nhiều thanh niên tin HIV lây qua đường… muỗi đốt

Một tỷ lệ đáng kể thanh thiếu niên tin rằng HIV có thể lây truyền qua muỗi đốt; một số người “lo xa” đến mức cho rằng sử dụng chung bát đĩa cũng “dính” hoặc bệnh lây truyền qua đường hô hấp…

Giới trẻ hiểu biết sơ sài về HIV

Theo Cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên Việt Nam (Savy 2) mới được công bố, hơn 90% thanh thiếu niên tham gia điều tra trên có hiểu biết nhất định về HIV/AIDS. Tuy nhiên, những hiểu biết này còn sơ sài và thiếu cụ thể. Điều này có thể làm cản trở việc phòng chống căn bệnh, cũng như ngăn cản đường tái hòa nhập của những người có H.

Phần lớn thanh thiếu niên được hỏi đều biết đến 4 nguyên nhân lây nhiễm HIV là: Quan hệ tình dục không an toàn, lây từ mẹ sang con trong quá trình mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ, dùng chung bơm kim tiêm, truyền máu không an toàn. Mặc dù vậy, khi áp dụng vào những trường hợp cụ thể, những hiểu biết trên trở nên quá chung chung và thậm chí thành hiểu sai.

Ảnh
Thanh thiếu niên đường phố trình diễn tiểu phẩm tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS tại Hà Nội. Ảnh: Dương Ngọc – TTXVN

Chẳng hạn, một tỷ lệ đáng kể thanh thiếu niên tin rằng HIV có thể lây truyền qua muỗi đốt (26%). Một số người khác “lo xa” đến mức tin rằng sẽ lây HIV nếu sử dụng chung bát đĩa (10%) hay lây truyền qua đường hô hấp (13%). Từ những hiểu biết sai lệch này sẽ dẫn đến những thái độ kỳ thị đối với người nhiễm HIV.

PGS.TS Vũ Mạnh Lợi, Viện Xã hội học cho rằng: “Nếu họ tin rằng muỗi đốt lây HIV, thì sẽ rất dễ có thái độ kỳ thị với người nhiễm HIV. Chẳng hạn, họ không thể ở chung nhà, học cùng một môi trường. Một số nghiên cứu nhỏ cho biết, một số người nhiễm HIV làm việc tại các quán ăn, nhà hàng thì không ai dám đến ăn nếu người ta biết họ nhiễm HIV”.

Muôn nẻo xa lánh

Cũng nói về chuyện kỳ thị với người nhiễm H, BS Vũ Minh Phượng – Phó Trưởng Bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội chia sẻ câu chuyện về một anh kỹ sư xây dựng năm nay 29 tuổi, đã có gia đình và có vị trí nhất định trong công việc. Anh ta có quan hệ “ngoài luồng” với một cô nhân viên nhưng không dùng bao cao su. Đến khi có thông tin cô nhân viên kia dương tính với HIV thì ngay lập tức anh cho cô nhân viên kia nghỉ việc.

Hẳn nhiều người vẫn còn nhớ câu chuyện cách đây 2 năm tại một trường tiểu học tại TPHCM. Với mong muốn cho các trẻ em có H được hoà nhập với cộng đồng nên trung tâm nuôi dưỡng trẻ HIV đã đưa các em đến trường để được học cùng các trẻ em bình thường khác. Nhưng khi các em chưa bước đến cổng trường thì toàn bộ phụ huynh học sinh ở trường này đã chặn lối không cho các em vào. Họ còn lên UBND huyện yêu cầu không cho các em nhiễm HIV được học tại trường. Thế là số trẻ em nhiễm H này phải học riêng ngay tại trung tâm. Ước mơ hòa nhập tan vỡ.

Về vấn đề này, bác sĩ Jean-Baptiste Dufour cho biết, trong các bệnh viện của Việt Nam vẫn còn tình trạng nhân viên y tế, bác sĩ chịu trách nhiệm chăm sóc người nhiễm HIV có thái độ kỳ thị, hoặc bị người khác kì thị, khó lập gia đình, đưa họ vào tình trạng buộc phải làm chứ không có tình thương hay sự thông cảm.

“Khoảng cách từ hiểu biết đến hành động còn rất rộng. Nhiều em có hiểu biết nhưng vẫn có thể lây nhiễm HIV do thiếu chủ động phòng tránh hoặc chủ quan. Song đáng lo ngại là chính một bộ phận nhỏ thanh thiếu niên (chủ yếu ở nông thôn) vẫn thiếu hiểu biết về HIV/AIDS có thể tiềm ẩn nhiều nguy cơ kỳ thị đối với người HIV càng cao.”, PGS.TS Vũ Mạnh Lợi nhấn mạnh.

Tiêu cực hoặc trở thành nguồn lây bệnh

 PGS.TS Vũ Mạnh Lợi chia sẻ câu chuyện trong một lần đi công tác khiến ông trăn trở: “Năm 2011, tôi tham dự một hội nghị quốc tế về HIV ở Hải Phòng. Đây là thành phố có tỷ lệ người nghiện và nhiễm HIV cao. Nhiều người nhiễm HIV đã lây sang vợ. Khi người chồng mất thì những người vợ này cũng biến mất. Họ đi nơi khác vì họ bị kỳ thị ở chính quê hương mình. Những người này có thể tự kiếm sống hay lại trở thành những nguồn lây nhiễm HIV qua đường mại dâm? Không biết điều gì sẽ xảy ra với họ”.

 Ngoài ra, sự kỳ thị có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực của những người có HIV như câu chuyện của một thành viên có HIV của nhóm Hoa Xương Rồng (CLB của những phụ nữ sau cai nghiện): “Một lần em vào hàng ăn, có một gia đình ngồi ăn ở đó cứ nhìn “đểu” em rồi đứng lên bỏ đi khi em ngồi vào bàn. Lúc đó em ước có cái kim tiêm để em đâm vào em rồi đâm vào chúng nó cho bõ tức”.

 Kỳ thị có thể được coi là một khía cạnh của sự phát triển nên không thể loại bỏ sự kỳ thị khỏi đời sống xã hội. Nhưng với những người HIV, kỳ thị có thể sẽ “giết chết” họ ngay khi họ vẫn đang sống trong cộng đồng và đem đến nhiều nguy cơ cho chính cộng đồng đó.

 “Phân biệt, kì thị sẽ làm cho dịch bệnh trở nên trầm trọng hơn, bởi vì việc phân biệt đối xử sẽ khiến người nhiễm HIV ngần ngại trong việc xét nghiệm, chữa trị, không thông báo cho người thân trong gia đình”, bác sĩ Jean-Baptiste Dufour, Tùy viên Hợp tác Y tế và phát triển xã hội Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam khẳng định.

 Ông cũng đưa ra những ví dụ điển hình ở các nước Châu Phi, khi số những người nhiễm HIV được xét nghiệm, chữa trị cao, thì lượng nhiễm mới giảm đi rất nhiều.

 Hiện nay ở Việt Nam, các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện rất phát triển. Tuy nhiên nhiều thanh thiếu niên tỏ ra ngần ngại khi đến những nơi này.

 Bác sĩ Vũ Minh Phượng đặt ra câu hỏi: “Tại sao kiến thức về HIV rất nhiều và dễ tiếp cận, nhưng số lượng người nhiễm mới vẫn tăng và độ tuổi nhiễm HIV ngày càng bị trẻ hoá?”.

 Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2011, có 6.146 người nhiễm HIV- đây là số lượng khá lớn đối với một quốc gia mà căn bệnh HIV/AIDS không mới và nguồn thông tin về căn bệnh này cũng không hề thiếu.

 Do vậy, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục để thanh thiếu niên có một cái nhìn toàn diện về HIV. Giúp họ có hiểu biết về cách phòng tránh cũng như những con đường có thể lây nhiễm HIV. Đây là trách nhiệm của cả cộng đồng. Tất cả mọi người đều cần tham gia cung cấp kiến thức cho thanh thiếu niên kiến thức về HIV. Khi đã có hiểu biết họ sẽ hành động khác, sẽ giúp tình trạng kì thị với người nhiễm HIV giảm xuống, đồng thời tăng khả năng tự phòng tránh HIV cho thanh thiếu niên Việt Nam.

 “Mở rộng vòng tay, thân thiện với người có HIV sẽ khai thác được tính thiện trong con người họ, không làm họ phải gồng mình trước sự phân biệt, kỳ thị của xã hội. Họ sẽ là những người tích cực nhất cùng xã hội góp phần đẩy lùi HIV/AIDS”, bác sĩ Phượng khẳng định.

 Theo Cầm Trang – Thu Trang

 Báo Tin tức

 

Thẻ:

Chê bao cao su, nhiều đồng tính nam nguy cơ bị HIV

Quá tin bạn tình, thiếu kiến thức phòng bệnh và cho rằng quan hệ tình dục qua đường hậu môn sẽ giảm cảm giác nếu dùng bao cao su, nhiều người đàn ông thuộc “thế giới thứ ba” đã phải ôm hận vì dính căn bệnh thế kỷ.

Bà Nguyễn Thị Huệ, Trưởng phòng can thiệp và giảm tác hại, Ủy ban Phòng chống HIV/AIDS TP HCM cho biết, khảo sát của ủy ban cùng Viện Pasteur TP HCM cho thấy có đến 14% bệnh nhân HIV là người đồng tính nam quan hệ tình dục cùng giới. Con số này tuy thấp hơn nhóm gái mại dâm và tiêm chích ma túy, song vẫn đáng báo động.

Kết quả thống kê trên cả nước từ năm 2006 đến năm 2009 của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cũng cho thấy có khoảng 16% người nhiễm HIV thuộc nhóm nam quan hệ tình dục với nam.

Người đồng tính nam cần có ý thức phòng bệnh khi quan hệ tình dục. Ảnh minh họa: Thiên Chương - Vở kịch về đề tài đồng tính Đỏ cam vàng lục lam tím

“Qua điều tra, phần lớn các bệnh nhân HIV là người đồng tính nam cho biết họ ít hoặc thậm chí không dùng bao cao su khi quan hệ tình dục. Riêng điều tra của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho thấy chưa đến 40% người đồng tính dùng bao. Đây chính là nguyên nhân khiến bệnh lây lan”, bác sĩ Huệ nói.

Ông Tùng Vũ, Chủ tịch quốc gia nhóm công tác kỹ thuật MSM (người quan hệ đồng tính nam) cũng nhìn nhận tỷ lệ người đồng tính dùng bao cao su khi quan hệ tình dục là rất thấp.

“Một số người cho rằng nam và nam quan hệ không có nguy cơ lây bệnh. Số khác thấy bạn tình trẻ trung đẹp trai chủ quan bạn không mắc bệnh. Bên cạnh đó, sự kỳ thị của xã hội cũng khiến người đồng tính quan hệ lén lút, bất chợt nên không có được các biện pháp tình dục an toàn”, ông Vũ nói.

Bạn Xuân Phú, quản trị một diễn đàn đồng tính nam tại TP HCM thì cho rằng, nguyên nhân khiến người đồng tính nam không dùng bao cao su khi quan hệ vì chê bao gây mất cảm giác.

“Trong khi đó, yêu qua hậu môn nếu không có bao và chất bôi trơn sẽ rất dễ gây rách da chảy máu. Đây là nguyên nhân dính bệnh truyền nhiễm”, Phú nói.

Theo bác sĩ Huệ, dù ngày nay các phương tiện hỗ trợ tình dục đồng giới nam như bao cao su có kèm chất bôi trơn đã có, song điều quan trọng vẫn là ý thức và kỹ năng của người trong cuộc. “Biện pháp đã có nhưng các bạn ấy vẫn không hiểu và dùng thì cũng bằng không”, bà Huệ nói.

Cũng theo đại diện của Ủy ban phòng chống HIV/AIDS TP HCM, nếu tính theo tỷ lệ 1,5 đến 2% đàn ông từ 15 đến 49 tuổi mà Cục phòng chống AIDS từng thống kê, chỉ riêng thành phố đã có khoảng 20 nghìn nam quan hệ tình dục nam có nguy cơ cao nhiễm bệnh.

“Chính vì thế nếu bản thân người đồng tính nam không ý thức phòng bệnh thì tỷ lệmắc HIV của giới này không dừng lại ở con số 14%”, bác sĩ Huệ cảnh báo.

Thiên Chương (VNEXPRESS.NET)

 

Thẻ: ,

Đà Nẵng: Nhóm đồng đẳng chăm sóc người có HIV tại nhà

Tình trạng kỳ thị, bỏ mặc người bị bệnh HIV/AIDS, ngay cả đó là người thân trong gia đình vẫn còn diễn ra phổ biến ở Đà Nẵng. Một nhóm đồng đẳng tình nguyện đã đứng ra nhận chăm sóc những bệnh nhân này.

Trong căn phòng tối, H gượng dậy quờ quạng tìm cây nạng gỗ, nhưng không sao nhấc nổi người. Tấm thân khuyết tật, gầy gò tấy đỏ bởi những vết lở to như quả trứng gà, làm anh càng thêm nhức nhối. Kể từ ngày biết con mình có HIV, rồi chuyển qua AIDS, gia đình để H một mình tại căn phòng này và phó mặc mọi việc ăn uống, đi lại cho anh. Nhiều lúc H cảm thấy cô quạnh, bất lực.

Một buổi sinh hoạt của những người có HIV tại Đà Nẵng.

Chị T (xã Hoà Tiến, Hoà Vang) – một người có HIV, cũng từng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Chồng mất sớm để lại cho chị căn bệnh thế kỷ và 2 đứa con thơ dại. Chị T đi đến đâu cũng bị xì xầm, tránh né, thậm chí muốn ăn bát bún cũng không ai dám bán. Khó khăn, bệnh tật lại thêm sự xa lánh, kỳ thị của bà con lối xóm khiến chị suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần. Chị nhiều lần muốn tìm đến cái chết để giải thoát cho mình…

Theo Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS thành phố Đà Nẵng, đến thời điểm này đã có hơn 1.440 người có HIV, trong đó 570 trường hợp đã chuyển qua giai đoạn AIDS. Tuy nhiên, chỉ có 1/10 trong số đó dám công khai và được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế, số còn lại âm thầm sống trong sự kỳ thị từ cộng đồng…

Thời gian gần đây, Đà Nẵng xuất hiện nhiều nhóm đồng đẳng, Tổ chức NAT và nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà. Những nhóm này đã động viên rất nhiều cho những bệnh nhân có HIV. Anh H nói đến ở trên cũng nhờ được nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà mà tìm thấy chút niềm vui. Hàng ngày các thành viên trong nhóm thay nhau đến giúp H rửa vết thương, thay băng, đỡ đần cơm nước, giặt giũ quần áo.

Anh Toàn, Trưởng nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà ở quận Cẩm Lệ tâm sự: Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh công tác truyền thông, sự phân biệt, kỳ thị người có HIV ở TP.Đà Nẵng đã giảm. Nhưng ở một số nơi, nhất là vùng nông thôn và ngoại ô thành phố, nhiều người vẫn ngại tiếp xúc, xa lánh người có HIV.

Anh Toàn và những người bạn của mình đã tự nguyện tìm đến nhóm chăm sóc người có HIV tại nhà, với mong muốn được giúp đỡ, sẻ chia những người cùng cảnh ngộ như mình.

Được biết, hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 5 nhóm chăm sóc tại nhà cho người có HIV với gần 30 thành viên, hầu hết họ đều là người có HIV. Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh éo le, nhưng đầy nghị lực sống và tấm lòng nhân ái.

 Theo Báo Dân Việt

 

Thẻ:

Người con gái nhiễm HIV nuôi mẹ già ung thư

Dù đang mang trong người căn bệnh thế kỷ do chồng lây sang, dù cuộc sống mong manh như ngọn đèn trước gió, nhưng chị Nguyễn Thị Như Mai (30 tuổi, trú tại thôn Phú Hiệp 3, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên) vẫn phải lặn lội mưu sinh giữa đời thường để nuôi mẹ già 66 tuổi bị ung thư và cô con gái đang tuổi ăn học…

Bước ngoặt cuộc đời…

Nguyễn Thị Như Mai là cô con gái út duy nhất trong một đại gia đình nghèo gồm 4 anh em. Cha mất sớm, một mình mẹ (bà Trần Thị Nhẫn) phải bươn chải đủ nghề từ làm ruộng, thu lượm ve chai đến phụ hồ để nuôi bầy con đói ăn khát uống.

Do hoàn cảnh quá khó khăn nên lần lượt các anh của Mai phải nghỉ học đi làm thêm, đỡ đần cho mẹ. Riêng Mai không cam chịu nghịch cảnh, luôn có gắng tranh thủ ngày đi học, tối làm thêm để không tụt hậu so với các bạn.

Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, Mai dự định thi vào ngành Sư phạm để thỏa ước mơ làm cô giáo. Tuy nhiên dự định ấy nhanh chóng tan biến bởi thời điểm ấy mẹ chị bị bệnh nặng. Là con gái duy nhất trong nhà, Mai ở nhà để chăm sóc mẹ.

  Chị Mai phải lăn lộn mưu sinh để nuôi mẹ già bị ung thư và con gái

Sau khi sức khỏe mẹ dần ổn định, Mai xin vào làm phụ hồ tại công trình văn hóa xã Hòa Hiệp Trung. Tại đây Mai đã gặp gỡ, làm quen với anh Nguyễn Trọng Khánh (SN 1981), là phụ hồ dân gốc An Nhơn, Bình Định. Định mệnh đời Mai cũng rẽ ngang từ đây.

Năm 2003, Mai và Khánh kết duyên trong niềm hân hoan lẫn những lời chúc tụng của hai bên gia đình và bà con lối xóm. Năm 2004, bé Nguyễn Thị Ngọc Bích ra đời càng làm cho hạnh phúc gia đình chị thêm viêm mãn.

Dù hai vợ chồng cật lực làm việc, cuộc sống vẫn cứ thiếu trước hụt sau. Cuối năm 2004, Khánh theo đám bạn vào TP.HCM làm phụ hồ.

Tháng 2/2006, Khánh trở về nhà trong trạng thái rối bời, sức khỏe suy kiệt, thuốc thang gì chữa cũng không hết. Mai giục chồng đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định chữa bệnh nhưng anh nhất quyết không nghe.

Hơn 1 tháng sau, Khánh chết. Sau đám tang, trong một lần lục lại đồ đạc của Khánh, Mai tìm thấy một tờ giấy nhỏ trong túi quần của chồng. Khi nhìn thấy những dòng chữ đầu tiên, cô choáng váng muốn té xỉu khi biết chồng mình mắc phải căn bệnh không có thuốc chữa HIV/AIDS.

Cô tức tốc đạp xe đến bệnh viện để xét nghiệm. Kết quả cho ra dương tính, Mai bắt đầu suy sụp. Còn bà Nhẫn khi biết tin cũng ngất lên ngất xuống mấy hồi.

Hai thân bệnh nương tựa vào nhau

Phải gần hai tháng sau cái chết của chồng (tháng 9/2006) lấy lại tinh thần, Mai mới bước chân ra khỏi nhà. Công việc đầu tiên của chị là đưa bé Bích đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên xét nghiệm. Chị và mẹ vui mừng khôn xiết khi biết bé Bích đã thoát “án tử”.

Từ đó Mai cố gắng sống vui sống, bỏ ngoài tai những lời thị phi.

Không chỉ phụ giúp mẹ làm việc nhà, Mai còn tham gia sinh hoạt tại các nhóm đồng đẳng, các buổi tuyên truyền phòng tránh HIV/AIDS và kể lại câu chuyện của chính mình. “Bản thân tôi đã từng bị sốc khi nghe tin mình bị bệnh… nên tôi hiểu tâm trạng “không thiết sống” hay “sẵn sàng trả thù đời” do bị kì thị của những người cùng cảnh ngộ”.

Vào một buổi chiều đầu năm 2010, trong lúc đi thu nhặt ve chai, bà Nhẫn bất ngờ ngã qụy, bất tỉnh. Sau khi nhập viện, bà mới biết ngoài các căn bệnh lâu nay bà còn bị ung thư vú. Trong thời gian này, thẻ bảo hiểm y tế của bà lại hết hạn nên gia đình buộc phải thanh toán mọi chi phí phẫu thuật.

Để có tiền chữa trị cho mẹ, Mai phải chạy vạy ngược xuôi để vay tiền. Sau nhiều lần phẫu thuật, các bác sĩ Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh đã cắt bỏ vú bên phải và nạo hạch của bà, nên hiện khỏe bà ngày càng suy yếu. Cánh tay phải gần như tê liệt, bà không còn có thể cử động như trước nên chẳng thể làm được việc gì.

Từ đây, việc mưu sinh đều dồn vào một tay Mai. Hàng ngày chị thay mẹ đi mót ve chai để có tiền duy trì cuộc sống ngày hai bữa. Dù bác sĩ khuyên “có làm thì nên làm một buổi”, nhưng nhiều khi chị vẫn phải giả tảng quên đi bởi “nếu không làm, cuộc sống càng chật vật”.

 Theo phunutoday.vn

 

Thẻ:

Bé mồ côi 9 tuổi nhiễm HIV mơ làm bác sĩ

é Đỗ Thị Trà My 9 tuổi (trú thôn 67, xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) mắc phải căn bệnh HIV từ bố mẹ của mình, đang từng ngày đấu tranh với căn bệnh đang lấy dần, lấy mòn sự sống của em. Hiện em đang sống cùng với bà nội trong hoàn cảnh rất khó khăn.

Đi học về, Trà My vo gạo nấu cơm. Ảnh: Văn Định.

Mẹ bé My chỉ biết mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV khi trở dạ sinh đứa con gái thứ hai. Vào bệnh viện địa phương, bác sĩ khi ấy sợ không dám đỡ đẻ, phải đưa lên tuyến trên. Cả gia đình nội ngoại như nghe tin sét đánh khi biết tin cả gia đình bé My đều nhiễm căn bệnh quái ác này.

Và cứ thế, căn bệnh ấy đã lần lượt cướp đi sinh mạng của những con người bất hạnh khi tháng 4/2006 bố bé Lan mất, cuối năm đó đến lượt đứa em út, và năm 2007 là mẹ bé. Đến bây giờ bà Tới – bà nội bé My – cũng không biết rõ nguyên nhân lây HIV của các con cháu bà là từ đâu.

Ông Trịnh Văn Năm, trưởng xóm 67, kể: “Khi Trà My 4 tuổi, vì sợ bị mang bệnh vào người nên không ai dám nuôi cháu (kể cả bà nội), gửi vào trại trẻ mồ côi nhưng trại không nhận vì bé nhiễm HIV. Sau đó bé được đưa về xã, xã lại chuyển về thôn để chăm lo. Lúc ấy gia đình nào cũng túng thiếu, người cho bát gạo, người cho mớ rau, con cá nuôi cháu. Vì dân trí còn chưa cao nên nhiều người vẫn xa lánh, vì sợ bị lây nên không dám cho con cái chơi cùng”.

Ông, bà anh em bên ngoại cũng không ai dám gần, họa chăng Tết đến cho cháu được bộ quần áo. Về sau, được sự động viên của cán bộ xã, y tế, bà nội đã đứng ra nhận nuôi cháu trở lại. Cứ thế Trà My chỉ còn có bà nội và con gấu bông là bạn thân duy nhất. Họ bấu víu nhau sống trong căn nhà nhỏ hút sâu phía sau chân đồi trong sự đói khổ, mà bà Tới thì nay ốm mai đau.

Bà Tới không giấu nổi nước mắt khi kể về cảnh nhà mình. Ảnh: Văn Định.

Nhiều đêm bà thức trắng vì thương đứa cháu tội nghiệp, vì lời bé tâm sự: “Con mà có bố có mẹ như các bạn thì bà đỡ khổ vì con”.

Trà My cũng được đến trường. Ban đầu chẳng ai dám ngồi gần em vì sợ bị lây, nhưng rồi qua lời thầy cô, các bạn cũng bớt biệt thị với em. Dù vậy, nhiều khi còn mặc cảm với số phận, em cứ lầm lũi phía cuối góc lớp.

Thầy Dương Viết Trung, chủ nhiệm lớp 3A Trường tiểu học xã Hợp Lý, nơi em đang học, cho biết: “Trà My là một học sinh ngoan. Đầu tiên khi mới bước chân vào học em còn ngại tiếp xúc với các bạn xung quanh. Nhưng thầy cô ai cũng thương yêu, quan tâm, nên giờ Trà My đã theo học được đến lớp 3″.

Khi được hỏi ước mơ của mình, em hồn nhiên nói: “Em ước sau này mình sẽ trở thành bác sĩ thật giỏi để chữa bệnh cho những người không may bị nhiễm HIV như em, để cha mẹ và em gái không mất nữa”.

Bà Tới chân đất chở cháu Trà My đi học trên chiếc xe đạp cũ kỹ. Ảnh: Văn Định.

Giờ đây, tài sản quý nhất trong nhà là chiếc xe đạp cũ kỹ của bố bé My để lại, dùng để đưa đón em đi học và đều đặn mỗi tháng 4 lần bà đạp xe hàng chục cây số đi lấy thuốc cho cháu uống để dứt cơn bạo bệnh.

Độc giả hảo tâm xin liên hệ bà Lê Thị Tới, xóm 67, xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. SĐT: 01684410571.

Theo VnExpress

 

Thẻ:

Hiệp sĩ phòng chống HIV/AIDS

Ghé lại gia đình anh vào một buổi sáng khi trời còn se lạnh của những ngày đầu mùa đông vùng Nam Bộ, lòng tôi ấm lại khi thấy anh bâng tô cháo nóng bốc hơi nghi ngút trao cho bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối mà anh đưa về chăm sóc tại nhà đã nhiều năm nay.

Gia đình anh Thượng Văn Chiêu – ngụ tại thị trấn An Thạnh, thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương, một địa chỉ còn rất xa lạ đối với nhiều người, tuy nhiên các bác sỹ ở Khoa nhiễm bệnh viện đa khoa tỉnh và một số bệnh nhân AIDS thì biết rất rõ. Gặp anh lúc nào cũng vội vả không chỉ việc lo cho 2 bệnh nhân AIDS đang nằm tại nhà mình mà còn nhiều cas bệnh phẩm khác mà anh nhận trách nhiệm chuyển mẫu xét nghiệm. Chúng tôi thấy sự vội vả của anh nên cũng tranh thủ hỏi mấy câu: với công việc chiếm nhiều thời gian như thế thì anh làm nghề gì để có tiền trang trải cuộc sống gia đình? Anh trả lời ngay: “Thực ra tôi cũng không biết mình đang làm gì”.  Đây cũng là điều dễ hiểu vì công việc anh làm hoàn toàn không có tên, anh tìm những bệnh nhân AIDS bị bỏ rơi đem về nhà chăm sóc, một nghĩa cử cao đẹp vượt xa tất cả suy nghĩ thông thường của chúng ta.

Tôi chợt nghĩ có phải từ 1992 anh đã tình nguyện vào khoa nhiễm chăm sóc những người bệnh nên anh không còn sợ lây truyền các bệnh dễ lây trong đó có bệnh Lao và AIDS. Đúng vậy, với một không gian sinh hoạt của gia đình không rộng rãi và khang trang lắm, gia đình anh còn có vợ có con, thế mà anh dám ngăn một phần căn nhà mà mình đang sinh hoạt để kê giường chăm sóc bệnh nhân. Cái tên “Hiệp sĩ” được Ban giám khảo hội thi phóng sự truyền hình phòng chống HIV/AIDS đặt cho, vì chúng tôi đã thực hiện phóng sự chân dung về anh. Anh tâm sự “những gì tôi làm còn rất nhỏ, mơ ước của tôi là làm sao Bình Dương có được một trung tâm chăm sóc những người bị bệnh AIDS giai đoạn cuối, để các em sống những ngày cuối đời vui vẻ, được tôn trọng và không bị kỳ thị, phân biệt đối xử”. Hai bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối là anh.M đã ngoài 60 mươi, còn anh.P thì mới 30 tuổi, cả hai điều đã suy kiệt sức do sự tàn phá huỷ hoại của loại vi rít quái ác này. Anh P nói với chúng tôi bằng một giọng điệu yếu ớt: “Em coi chú Chiêu như là người cha thứ 2 của mình, chú ấy đã chăm sóc em từ khi em bị gia đình bỏ rơi, em rất biết ơn chú ấy, vì chú đã giúp đỡ chăm sóc em như người thân trong nhà như con cái của mình”. Tôi thầm nghĩ những người bị nhiễm HIV do nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chung quy lại họ rất hối hận về những gì đã làm để phải mang căn bệnh quái ác này. Nỗi đau của họ mà chúng ta cảm thông không chỉ là sự dằn vặt, chống chọi với bệnh tật mà là một nỗi cô đơn trống vắng, một nỗi buồn không thể diễn tả và một nỗi xót xa khi chỉ quanh quẩn ra vào một căn phòng nhỏ, ăn rồi nghĩ đến ngày kết thúc đời mình mà không có người thân, bạn bè, vợ con chia sẻ để nguôi ngoai đi….!

Để tiến tới việc ngăn chặn và khống chế HIV/AIDS: Một trong những nội dung quan trọng được thảo luận là Dự thảo Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030,  theo Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, Chiến lược đặt ra các mục tiêu cụ thể như:

-  Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3%;

-  Tăng tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS trong độ tuổi 15 – 49 lên 90% vào năm 2020;

- Giảm số ca nhiễm mới HIV do lây truyền HIV qua đường tình dục và nghiện chích ma túy vào năm 2015 và 80% vào năm 2020;

- Xóa bỏ hoàn toàn lây truyền HIV từ mẹ sang con vào năm 2015 và giảm 50% số ca tử vong ở bà mẹ bị nhiễm HIV/AIDS vào năm 2015;

- 90% người nhiễm HIV/AIDS được điều trị ARV vào năm 2020;

- Xóa bỏ tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với HIV/AIDS vào năm 2020.

Anh Thượng Văn Chiêu đang cho bệnh nhân ăn
Chủ đề của Ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS 01/12/2011 là “Hướng tới mục tiêu không” (Getting to Zero), trong đó có 3 mục tiêu: Không còn người nhiễm mới HIV; không còn người tử vong do AIDS và không còn kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS. Mục tiêu 3 không ở trên rất thiết thực và nếu đạt được thì có thế coi đây là một thành công vĩ đại nhất trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS của những năm đầu của thế kỷ 21. Muốn làm được điều này bạn, tôi và mọi người hãy chung tay ngay hôm nay và nhắc nhở mọi người tránh MA TUÝ-MẠI DÂM…?

  Anh Thượng Văn Chiêu đang chở bệnh nhân đi nhận thuốc

Sỹ Hoàng

(Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ- Sở y tế Bình Dương; bài viết này có sử dụng, một số thông tin Cục phòng chống HIV/AIDS- Bộ y tế)

 

Thẻ:

Sẽ có thuốc trị HIV dành cho trẻ em?

(Dân trí) – Raltegravir, một thuốc kháng retrovirus làm trì hoãn sự lây lan của virus HIV hứa hẹn trở thành một phương pháp mới điều trị HIV cho trẻ em và trẻ vị thành niên.

 Thuốc Raltegravir

Thuốc này được FDA phê chuẩn vào ngày 21/12/2011 sử dụng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác để điều trị cho trẻ từ 2 – 18 tuổi. Raltegravir thuộc nhóm chất ức chế integrase HIV và được FDA phê chuẩn sử dụng ở người lớn năm 2007.

Trong một thử nghiệm trên người, trung tâm xem xét độ an toàn và hiệu lực của raltegravir ở trẻ em và trẻ vị thành niên nhiễm HIV, các nhà nghiên cứu Trường Y ĐH Stony Brook (Mỹ) đã tập hợp 95 bệnh nhân độ tuổi từ 2-18 được điều trị bằng phác đồ thuốc HIV khác trước khi dùng raltegravir. 53% số đối tượng tham gia có lượng vi-rút HIV không phát hiện được trong máu sau 24 tuần điều trị bằng raltegravir.

TS. Nachman giải thích rằng Raltegravir là một lựa chọn mới quan trọng cho trẻ em bị nhiễm HIV. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả của thuốc ở trẻ em nhiễm HIV thất bại với các phác đồ thuốc khác và thuốc cũng có tác dụng chống virus.

Đối với trẻ nhỏ, raltegravir được dùng dưới dạng nhai trong khi trẻ lớn tuổi hơn dùng raltegravir dạng viên 2 lần/ngày.

Theo FDA, tác dụng phụ hay gặp nhất do sử dụng raltegravir bao gồm đau đầu và mất ngủ. Tần suất tác dụng phụ là tương tự nhau ở trẻ em và người lớn.

TS. Nachman cho biết việc đánh giá sử dụng raltegravir để điều trị cho trẻ em và trẻ vị thành niên bị nhiễm HIV vẫn sẽ được tiếp tục và mỗi đối tượng tham gia sẽ được theo dõi trong 5 năm. Trong thời gian theo dõi, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục đánh giá hiệu quả cũng như các biến chứng lâu dài của raltegravir ở các đối tượng nghiên cứu.

Anh Khôi

Theo Medicalnewstoday

 

Thẻ:

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers